Asin không phải là vị tướng ... - VC

By VƯƠNG CƯỜNG

Asin không phải là vị tướng của mọi cuộc chiến tranh
VƯƠNG CƯỜNG

     1. Vâng đúng vậy.
Cuộc cách mạng thơ ở nước ta nổ ra và thành công bước đầu từ 1930 -1945. Năm 1917 trên Nam Phong tạp chí đã kêu thơ VN phiền phức luật lệ ràng buộc. Năm 1932 Tình già của Phan Khôi xuất hiện trên Phụ nữ tân văn tự do không theo đường luật. Đó là ngọn gió đầu tiên bắt đầu từ một nhà "cựu học" thổi vào thơ VN tự nhiên phóng khoáng được lớp trẻ và đông đảo bạn đọc đón nhận dù yếu ớt những người cổ học chống đối. Những nhà thơ tuổi đời còn rất trẻ như Lưu Trọng Lư Xuân Diệu Chế Lan Viên Huy Cận...gặp gió mới tạo thành cơn bão. Ngay cả Bích Khê khi xuất hiện trình làng bằng đường luật cũng lập tức theo thơ mới. Thơ mới đã góp phần làm cho thơ gần với trí thức trẻ gần với thiên nhiên cùng với thiên nhiên ngân vang tình yêu. Thơ trở về từ cảm xúc như tiếng hót chú họa my không kìm được khi trăng lên chứ không phải bóp trán nhăn mặt tìm điển tích niêm luật...
      Không bao giờ sự kiện cách mạng ấy là ngẫu nhiên. Lịch sử đã chuẩn bị thai nghén nó từ lâu rồi. Sau khi xâm lược nước ta TD Pháp từng bước thiết lập chế độ cai trị trực tiếp nắm giữ các chức vụ chủ chốt trong bộ máy nhà nước. Từ xã hội phong kiến Việt Nam dần chuyển sang xã hội nửa phong kiến nửa thuộc địa. Chính cái phần nửa thực dân này đã vô tình mở ra cánh cửa cho trí thức VN tiếp xúc với nền văn hóa Pháp pha loãng tính thủ cựu sau lũy tre làng. Thực dân Pháp đã xây dựng nhiều công trình phục vụ cai trị và khai thác thuộc địa trên toàn Đông dương. Lấy một thí dụ: 1885 chuyến tàu đầu tiên chạy từ Sài Gòn đến Mỹ Tho đánh dấu sự ra đời của đường sắt VN. Thời gian từ 1899 đến 1936 Pháp xây xong đường sắt Bắc Nam. Lấy thí dụ này vì quả thật đường sắt chạy tới đâu thì văn minh chạy tới đó nhờ sự giao lưu. Phía sau kinh tế là văn hóa. Kinh tế - xã hội VN bắt đầu có những xáo trộn. Sự tha hóa con người trong cái xã hội như lẽ tự nhiên. Trong đêm đen đó người Việt Nam loay hoay nhìn ngôi sao xa lúc mờ lúc tỏ. Những Tám Bính Xuân tóc đỏ ở thị thành và anh Pha chị Dậu ở nông thôn chỉ 4 năm sau đã thành Chí Phèo và Thị Nở... Sự tha hóa xét một khía cạnh nào đó cũng là bước tiến lên của lịch sử đang tích lũy. Những chính sách của thực dân Pháp lại có tác dụng phái sinh nhờ đó một số người VN được học tập tiếp xúc với một xã hội khác tiến bộ hơn.
Bạn lại bảo tôi đang nói chuyện cách mạng thơ lại dẫn ra toàn chuyện kinh tế - xã hội chứ gì? Tôi nói thật nhiều công trình nghiên cứu thơ hay văn học hình như đều quên điều này làm cho tôi khi đọc không thật thõa mãn vì thiếu đi cơ sở khách quan của nó. Bạn có thấy rằng thơ là tình là cảm của con người được cất lên hay thoát ra từ bối cảnh lịch sử cụ thể trong đó yếu tố đầu tiên là kinh tế - xã hội nguồn gốc của những buồn vui đau khổ hay hạnh phúc. Ngay với nhà thơ mặc dù tôi lấy cái cụ thể Xuân Diệu từng viết: Cơm áo không đùa với khách thơ đó sao?
     
Kinh tế - xã hội chỉ mới tác động chứ chưa thể có thơ nếu thiếu nhân vật chính của chúng ta. Đó là các nhà thơ. Những người có khả năng đặc biệt tinh tế trước những tác động đó trong tình cảm của mình với mình và với nhiều người. Thật may mắn cho chúng ta ở giai đoạn này có nhiều tài thơ được sản sỉnh ra từ trong bối cảnh lều chõng đã suy tàn và tây học đang lên ngôi. Những nhà thơ - trí thức này đã tiếp xúc với nền văn hóa giáo dục Pháp  không chỉ mang trong mình truyền thống văn hóa dân tộc mà còn biết tiếp thu tinh hoa nhân loại.
     
Không chỉ các nhà thơ hòa mình vào cơn bão lớn mà lịch sử còn tạo ra một lớp bạn đọc mới đòi hỏi và tiếp nhận thơ mới. Tầng lớp bạn đọc này đa số và trước hết những người có học có ảnh hưởng từ nền giáo dục Pháp.Trong số các nhà thơ khăn xếp áo the guốc mộc Xuân Diệu nói như nhà phê bình thơ thiên tài Hoài Thanh xuất hiện với bộ comble ca vát giày tây lộng lẫy ban đầu xa lạ với những người xung quanh nhưng lại rất được lớp trẻ mến mộ. Nếu thiếu đi tầng lớp bạn đọc mới có thể thơ mới chưa được tiếp nhận nồng nhiệt như thế.
     
Các yếu tố như đã có nên thơ mới phát triển cực nhanh người ta tìm đọc nó chứ  thơ  không mất công tìm họ. Đây là lần đầu tiên người đọc với khao khát cái mới đi tìm thơ. Và quả thật thơ đã đáp ứng nhu cầu của họ. Lần đầu tiên tình yêu được bộc bạch dưới nhiều cấp độ với nhiều cung bậc mà trước đó con người khao khát ít thấy trong thơ.
Chiêm nương ơi cười lên đi em hỡi
Cho lòng anh thêm đỡ chút buồn lo
...
Lời chưa dưt bóng đêm đà vụt biến
Tình chưa nồng đã phải sắp phôi pha
Trên trời xanh vừng ô kia đã hiện
Gỡ hồn nàng ra khỏi mảnh hồn ta
( Chế Lan Viên )
Tuy thế giới quan đã được thay đổi nhưng sự thay đổi đó là chưa triệt để. Vì vậy thơ mới chỉ loanh quanh tù túng trong cái tôi không trọn vẹn. Việc bế tắc trong cách nhìn cũng là dễ hiểu.
Tôi có chờ đâu có đợi đâu
Đem chi xuân đến gợi thêm sầu
Với tôi tất cả như vô nghĩa
Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau
( Chế Lan Viên )
Hay thất vọng buồn chán mà không cắt nghĩa được cũng là thường tình.
Năm nay xuân trở lại
Người xưa không thấy tới
( Lưu Trọng Lư )
Hôm nay trời nhẹ lên cao
Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn
( Xuân Diệu )
     
Nói đến cuộc cách mạng thơ giai đoạn này không thể không nhắc tới nhà phê bình văn học thiên tài Hoài Thanh với Thi nhân Việt Nam viết chung với Hoài Chân. Chỉ hơn 10 năm ra đời phát triển lồng lộng ấy cặp mắt thiên tài của Hoài Thanh đã điểm danh thơ và nhà thơ dường như không bỏ sót ai. Từ hàng vạn bài thơ hàng ngàn nhà thơ mà chọn ra tiêu biểu 46 nhà thơ với 169 bài thơ. Thiên tài bởi sự chọn lọc ấy chình xác đến như không có sai số! Nhiều khi tôi cứ nghĩ giả sử không có Thi nhân Việt Nam thì chúng ta tìm hiểu thơ mới ở đâu và mất bao nhiêu thời gian và liệu có đúng không. Thiên tài ở chỗ ông bắt rất chính xác thần thơ từng nhà thơ một mà thời gian chỉ làm một việc là chứng tỏ thôi.
Ông viết: Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lần một hồn thơ rộng mở như Thế Lữ mơ màng như Lưu Trọng Lư hùng tráng như Huy Thông trong sáng như Nguyễn Nhước Pháp ảo não như Huy Cận quê mùa như Nguyễn Bính kỳ dị như Chế Lan Viên...và thiết tha rạo rực băn khoăn như Xuân Diệu..." " ...Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử Chế Lan Viên ta đắm say cùng Xuân Diệu. Nhưng động tiên đã khép tình yêu không bền điên cuồng rồi tỉnh say đắm vẫn bơ vơ. Ta ngẩn ngơ buồn trở vê hồn ta cùng Huy Cận. Cả trời thực trời mộng vẫn nao nao theo hồn ta"...
     
Thiên tài ở chỗ ông còn chỉ ra mặc dù chưa rõ rệt cái bế tắc trong thơ mới vì chính ông cũng còn bế tắc!Thiên tài còn ở chỗ bỏ qua tất cả những khái niệm khung hay sách vở liên qua để đưa ra ý kiến riêng mình bằng công thức " lấy hồn mình để hiểu hồn người ". Sau này có nhiều nhà chữ nghĩa không hiểu được cứ tưởng ông ít lý luận!
     
Tôi không có số liệu nhưng vẫn nói võ đoán một cách chắc chắn rằng tất cả các nhà thơ hiện đang đăng đàn hôm nay ít nhiều cùng lớn lên nhờ thơ mới. Ở cái thời xuân sắc say mê nhất của họ đều đọc trộm thi nhân Việt Nam và vô tình hay hữu ý đều bị thơ mới dắt họ đi vào và thơ họ nở rộ trong dòng thơ Việt Nam hiện đại. Cái vĩ đại của cuộc cách mạng thơ mới còn ở chỗ tham gia đào tạo các nhà thơ! 
     Các nhà thơ hiện đại quá may mắn hơn những nhà sáng tạo ra thơ mới nhờ thời đại mang lại cho họ một thế giới quan hoàn hảo hơn từ sau 1945. Vì thế vẫn trên nền tảng âm vang thơ mới họ tiếp cận trức tiếp cuộc sống và cuộc cách mạng khác cuộc cách mạng ngôn ngữ thơ đã được họ hoàn thành. Dường như không có chi tiết đời sống thực nào không vào trong thơ họ. Thơ mới nếu như đã vượt qua phong hoa tuyết nguyệt nhưng vẫn chưa đưa được ngôn ngữ sát đời sống thực vào thơ.  Con cò trong thơ Xuân Diệu ít có liên quan với đời sống thực lắm. Phải đợi đến gậy tầm vông đánh pháp thì ngôn ngữ đời sống thực mới ồ ạt vào thơ mang đến cho thơ một vẻ đẹp hồng hào khỏe mạnh. Này nhé:
Chúng tôi đi nắng mưa sờn mép ba lô
Tháng năm bạn cùng thôn xóm
Ngồi lại lưng đèo
Nằm bên dốc nắng
Kỳ hộ lưng nhau bên bờ cát trắng
Quờ chân tìm hơi ấm đêm mưa
...
Có mẹ già bắt rận cho những đứa con xa
Trăng lên tập hợp hát vang nhà
( Nhớ - Hòng Nguyên )
Này nhé cua dam ếch cũng vào thơ:
Chị ơi đem dúi ra ngoài ruộng
Kiếm ít tôm cua chút của đồng
( Bộ đội về làng - Hồ Tế )
Cái xắc mây anh mang
Em cắp mo cơm nếp
Lúa níu anh trật giép
Anh cúi sửa vội vàng
Rẽ cách đồng tạt ngang
Đến bờ ni anh bảo....
( Thăm lúa - Trần Hữu thung )
Bộng ong bào gọn ghẽ
Vết phân trâu miết đều
Mảng tường khi nắng xế
Nghe ong rù rì kêu
( Bằng Việt )
Bạn ơi kỳ lưng quờ chân bắt rận cua tôm kẻ ôm người nách níu trật cúi sửa tạt ngang phân trâu...làm sao có được ở thời đầu cách mạng thơ mới phải không?
Tôi cũng biết người con gái khi trang điểm có đánh thêm cái nốt ruồi giả đúng chỗ cũng làm cho khuôn mắt xinh đẹp ấy bỗng đẹp hơn nhiều. Nhưng nói tận cùng thì cái đẹp ấy cũng phải mang từ ngoài vào. Thơ mới nhìn cái đẹp thường có thêm cái bên ngoài làm trang sức. Như thế chừng mực nào đó cũng thiếu tự tin rồi:
Dịu dàng cô gái sông Hương
Giữ hờ mép áo làm duyên qua đường.
( Nguyễn Bính )
Cô gái sông Hương còn phải nghiêng nghiêng vành nón dáng chờ ai. Nhưng thơ chống Mỹ thì khác cái đẹp được thoát ra từ chính cái đẹp bên trong. Hãy lấy một câu:
Cạnh cái giếng có bom từ trường
Em không rửa ngủ ngày chân lấm
( Phạm Tiến Duật )
Cô gái thanh niên xung phong trong thơ Phạm Tiến Duật phạm hai điều cấm kỵ truyền thống không rửa mặt và ngủ ngày! Ngủ ngày từ lâu như một khái quát về cái chưa đẹp của phụ nữ. Nhưng ở đây trong điều kiện đặc biệt lại làm cho cô đẹp hơn nhiều.
     
Thơ chống Mỹ đã đẩy thơ mới lên đến mức hoàn chỉnh nhờ thế giới quan và phương pháp luận khoa học hoàn thiện làm cho các nhà thơ nhìn thấy được nhiều hơn cuộc sống vận động vào thơ dễ dàng hơn. Ra Xun Gam Za tốp nói người mù có tài nhìn thấy nhiều hơn người sáng mắt bất tài chính là khẳng định thêm phương pháp nhìn nhận và sáng tác đấy. Tại sao thơ chống Mỹ lại làm được việc vĩ đại thế? Ngoài phương pháp như đã nói còn có lý do khác nữa. Cuộc chiến tranh giành độc lập dân tộc đã khai thác triệt để tinh thần yêu nước vốn có trong mỗi người dân mất nước đã quá lâu. Cuộc chiến tranh nào dường như cũng chỉ có một mục đích chiến thắng. Nhưng vì chúng ta thuộc vào những người mang gươm đi giữ nước nên đúng lúc thời đại ủng hộ ta nên chiến thẳng chỉ là còn thời gian thôi. Mặt khác nếu nói gọn lại thơ chính là tình là cảm của con người với thiên nhiên đất nước con người vì vậy mà sự gặp nhau trùng khít nhau giữa tình cảm nhà thơ với tình cảm nhân dân là một tất yếu. Nhà thơ nói hộ mình và cũng là nói hộ tình cảm cho nhân dân. Tình cẩm yêu nước đã dâng cao nhà thơ được trời cho năng khiếu vì vậy chưa cần nhón chân thì đã bắt gặp thơ Thơ ấy là tình cảm của chung! Nhà thơ đại diện viết ra cho mọi người đọc. Người ta ôm đài bán dẫn chờ nghe thơ. Người ta đến hiệu sách hay bạn bè để tìm thơ. Thơ trở thành món ăn không thể thiếu. Trong lịch sử văn học VN có lẽ đây là thời lạ nhất.
Nhà thơ cũng là người lính vừa cầm súng lại vừa cầm bút. Cảm xúc của cả một dân tộc dâng tràn chảy vào những cái đầu giàu tưởng tượng đầy màu sắc đầy nhạc điệu của nhà thơ và anh ta không chỉ viết mà không hề có đòi hỏi nào khác. Họ reo lên khi thấy thơ mình trên mặt báo. Lao động của họ là loại lao động tự giác cao nhất. Mấy khi chủ quan và khách quan gặp nhau và ôm nhau như thế trong lịc sử?
     
Nhưng rồi cao trào ấy cũng trôi qua dù mất 30 năm.30 năm rất dài với bao nhiêu đau thương máu và nước mắt kết thúc trong tiếng hát khải hoàn. Nhưng với lich sử nó chỉ là cái chớp mắt. Lời bài hát của nhạc sỹ Hoàng Hà: Ta đi trong muôn ánh sao vàng...vừa dứt không còn tiếng súng cả dân tộc này núi sông đã nối liền con người đã hân hoan đoàn tụ. Khi ấy nhìn vào bếp nhà có gì quá lãnh lẽo khói leo lét uể oải bay lên. Thì ra lịch sử loài người đâu phải chỉ là lịch sử chiến tranh. Đó chỉ là giai đoạn đặc biệt của lịch sử không mong muốn...
( Còn nữa )

More...

GS Đặng Xuân Kỳ đôi điều ghi nhớ...VC

By VƯƠNG CƯỜNG

 

Ảnh lấy trên mạng
GS Đặng Xuân Kỳ đôi điều ghi nhớ...
VƯƠNG CƯỜNG

     
Tôi tình cờ gặp ông lần đầu đã gần 20 năm trong lần cùng nhóm nghiên cứu đô thị hóa và chính sách phát triển đô thị ở Việt Nam tại nhà khách tỉnh ủy Đà Nẵng. Tối đó mấy anh em sang thăm ông. Trước đó ông nổi tiếng với những bài viết lời phát biểu mạnh mẽ về đổi mới của một người lãnh đạo cao cấp và của một nhà khoa học uy tín. Tôi tò mò không chỉ vợ ông một tiến sỹ khoa học kỷ thuật tôi từng được làm học trò  của cô mà còn vì ông là con trai trưởng nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước kiệt xuất: Trường Chinh.
     
Ông ngồi bên cái bàn chúng tôi ngồi quanh giọng nói nhẹ nhàng trầm tĩnh cử chỉ thân mật và đầy tự tin. Khi ấy ông đang mang trọng trách UVTWĐ và Viện trưởng viện Mác - Lê - Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Cuộc gặp ấy tuy nhanh nhưng cũng để lại những ấn tượng đặc biệt với chúng tôi. Sau này khi ông không còn giữ trọng trách  nhiều lần được làm việc đọc hay nghe ông phát biểu trong các cuộc họp bàn về việc nghiên cứu lý luận hoặc trong các chuyên đề mà ông là người trình bày. Ấn tượng về một nhà khoa học vững vàng trong gắn kết giữa lý luận và thực tiễn nước ta luôn tràn đầy trong tôi.
     
Ông đã ra đi hôm 6-6-2010. Lúc này thay bằng việc nói về những đóng góp của ông trong việc phát triển lý luận đổi mới ở nước ta tôi lại nhớ ông trong đời thường.
Tôi luôn luôn tự nhủ mình không có khó khăn nào đáng kể với những gì mình đã gặp  khi biết những gì ông đã trải qua. Một nhà lãnh đạo cao cấp lại là con trai trưởng lãnh tụ Trường Chinh nhưng số phận ông luôn bỡn cợt ông. Đã hàng mấy chục năm chăm nuôi vợ ốm liệt giường và hai bà mẹ già. Ông không có con gái gần như mọi việc tự tay ông làm như một cô điều dưỡng viên. Ai dám nghĩ ông còn khó khăn hơn nhiều cán bộ bình thường dưới quyền ông. Vậy mà trên nét mặt ông không bao giờ tỏ ra mệt mỏi ông vẫn điềm tĩnh toàn tâm toàn ý cho công việc công tư vẹn toàn. Các con ông đều trưởng thành những trí thức trẻ tài năng. Ông là người nhân hậu thủy chung trọn vẹn.
     
Bạn bè ông nhiều tầng lớp với ai ông cũng trân trọng và quý mến. Một người trước đây là bảo vệ cơ quan ông tuổi đời còn ít hơn con út ông. Vậy mà dịp tết ông thường  đến thăm nhà và cuộc đi đó có lịch hẳn hoi ông không lúc nào tiện đường thì ghé.
    
Sau khi ông mất hai ngày  vừa bước vào cổng Học viện có người dừng xe xuống hỏi tôi phòng họp bàn về lễ tang ông và từ đó hình ảnh ông luôn trở về trong tôi...

More...

Thơ Hen Rích Hai Nơ -

By VƯƠNG CƯỜNG

 

Giọng nói trong rừng

Ta tạm dừng chân bên cạnh sân ga
Nơi khu rừng như tòa nhà nghỉ mát
Ta bỗng nghe từ nơi yên tĩnh nhất
Một tiếng nói ngân lên trong trẻo là thường

Sương phủ trắng khu rừng thưa buổi sáng
Từ cửa rừng chim gáy đón bình minh
Trong yên tĩnh lại ngân lên tiếng nói
Vừa trả lời vừa hỏi một mình chim

Con chim nhỏ cất lên hai tiếng nói
Chẳng làm cho ta chán nản vui mừng
Mà như bảo một ngày mai đang đợi
Ở miền xa lại có một khu rừng


Người hành khất

Người hành khất trước nhà thờ khép nép
Thân gầy còm vì mang nặng khổ đau
Cổ khô bỏng và dạ dày lép kẹp
Gã run run van lạy khẩn cầu

Gã chỉ dám xin một mẩu bánh thừa
Trong ánh mắt bao tủi hờn chứa đựng
Trên bàn tay đang run rẩy đón chờ
Ai tàn nhẫn nhét vào viên đá cứng

Ta cầu khẩn tình yêu em cũng vậy
Tái tê lòng bao giọt lệ chua cay
Tình ta đó chân thành biết mấy
Cũng bị em tàn nhẫn gạt lừa


Trong tháng năm kỳ diệu

Trong tháng năm kỳ diệu
Khi mầm cây mở ra
Trong tim tôi cảm thấy
Tình yêu bỗng nở hoa

Trong tháng năm kỳ diệu
Run rẩy tiếng chim ca
Với bạn tình tôi gửi
Những nỗi niềm thiết tha

VC dịch
(chép lại theo trí nhớ)

More...

Nhà thơ Thạch Quỳ đã từng đến nơi LÊNIN đi đày để ... thăm con - Tô Hoàng

By VƯƠNG CƯỜNG

 

Tôi đọc TN.com thấy bài này của anh Tô Hoàng viết về anh Thạch Quỳ khá trung thực vì chuyện này tôi có nghe anh TQ kể lại. Thật ra những câu Tiếng Nga thông thường anh học thuộc rồi khi cần là hỏi người Nga. Riêng hai câu thơ trích bị sai tôi có sửa lại. Hai câu : Đất nơi đây đào nơi nào cũng đỏ.
Đập đá ra có ánh lửa ngời...
Được sửa: Đào đất lên nơi nào cũng đỏ / Đập đá ra có ánh lửa ngời...
Mang về lưu làm tư liệu gia đình.
VC


Mấy tháng nay trên trang TN.com đã có 2 bài của các tác giả Đàm Quỳnh Ngọc và Thái Dõan Hiểu viết về con người và tác phẩm của nhà thơ Thạch Quỳ. Tôi xin góp thêm một câu chuyện nhỏ về anh mong cho bức chân dung nhà thơ xứ Nghệ này hòan chỉnh sinh sắc hơn...

Trước khi được gặp và làm quen với Thạch Quỳ trong đợt sang Liên Xô dự lớp tập huấn 3 tháng tại Học viện Văn học Gorki ở Moskva thú thật tôi chỉ biết tới anh vỏn vẹn qua hai câu thơ: 
Đào đất lên nơi nào cũng đỏ
 Đập đá ra có ánh lửa ngời...
Đâu đó từ cuối năm 1968 trở đi máy bay Mỹ phong tỏa gắt gao đọan đường số 1 từ cầu Hàm rồng vào tới phà Bến Thủy. Lính tráng bổ xung cho chiến trường Bắc Quảng trị -Đường 9 hoặc vượt Trường Sơn vào các chiến trường sâu đành đi qua đường Bò Lăn lên Thanh Chương Đô lương đến một trạm nào đó ở Nam Đàn thì nghỉ lại chờ tới tối sẩm hôm sau đi tiếp. Qua một đêm bị xe lắc ngủ gà ngủ vịt khỏang 8giờ 8 rưỡi sáng hôm sau chúng tôi bừng tỉnh trong tiếng lao xao họp chợ ngay phía bên kia bờ giậu. Những tiếng chào mời mà cả xen lẫn tiếng lợn kêu vịt cạc giữa thời buổi chiến tranh nghe sao như muốn níu kéo cánh lính chúng tôi trở về với cuộc đời thanh bình yên ả đến vậy. Càng lạ lùng hơn tiếng chào mời mà cả kia lại theo một đơn vị tiền tệ xa xưa hình như đã biến mất từ lâu: một tiền một tiền rưỡi có bán không?... Nhào dậy khỏi võng chạy ra sân định tìm tới giếng nước rửa mặt đã nghe thấy tiếng cười tung tóe của các cô gái. Chao con gái vùng này mới xinh làm sao? Áo nâu non sẻ tà để hở một mảng lườn  hồng hồng săn chắc; mắt tròn đen thăm thẳm; đôi môi tươi tắn lúng liếng nụ cười ghẹo trêu ! Chạy ngược vào nhà lấy gương ra soi. Đến lượt chúng tôi phá ra cười: Quần áo mặt mũi râu tóc thằng nào thằng nấy nhuộm sậm bụi đất đỏ ba dan! Thứ đất đỏ ấy mãi những năm còn sống sót sau này mới hay là rất đặc trưng cho vùng Thanh Chương Đô Lương. Chưa kịp định thần các cô gái xứ Nghệ dạn dĩ đã ào tới kéo tay chúng tôi đến bên những chiếc giếng đá ong đáy sâu tun hút múc những gàu nước mát lạnh gíup chúng tôi gội đầu rửa mặt. "Đất đỏ xứ Nghệ rứa đó! Các anh đi đâu ở đâu cũng đừng quên đất đỏ quê em nghe ..". Các cô gái ríu ran. Hứa hẹn. Ghi vào sổ lưu niệm quê quán địa chỉ của nhau. Để khi chiều tắt nắng đành bịn rịn dùng dắng chia tay. Và cho tới khi tóc bạc da mồi cũng không tìm được dịp may nào trở về nơi trú quân có những chiếc giếng đá ong có phiên chợ buổi sáng kỳ lạ và những con đường đất đỏ mỗi khi trời đổ mưa lòng đường đỏ sậm lại như một thân gỗ mới sẻ.. Đành bám lấy hai câu thơ của Thạch Quỳ mà tự làm dịu đi những nhung nhớ tiếc nuối của một thời trai trẻ...
Thạch Quỳ lên lớp nghe các nhà giáo nhà văn Nga thuyết trình đâu đó chưa đầy nửa tháng anh bỗng ngỏ ý với lớp trưởng nhà thơ Lê Chí và phiên dịch viên là tôi muốn đi thăm người con trai đang lao động xuất khẩu đâu đó tận Sibêri .Anh đưa tôi xem chiếc phong bì ghi địa chỉ nơi làm việc của con trai anh. Tôi quen biết nhiều cánh lao động Việt nam xuất khẩu đang làm việc tại các vùng ngọai ô Moskva như Klin Naghinxcơ.. hay xa hơn như Riadan Togliatti..nhưng cái địa danh nơi con trai nhà thơ làm việc sao rất xa lạ chưa từng nghe thấy bao giờ. Nhà thơ Lê Chí nhờ tôi tìm hiểu xem nơi đó xa gần phương tiện đi lại ra sao? Buổi chiều tôi tìm xuống thư viện nhà trường   không khó khăn gì tôi đã thu thập được một lượng thông tin dữ dằn. Điều đầu tiên cô thủ thư Nga cho biết thị trấn ấy ở cách Moskva khỏang 3500 hay 4000 cây số. Đi máy bay thì không kể làm gì đáp tầu lửa chừng mất cả nửa tháng vừa đi vừa về. Cô gái Nga nheo nheo mắt cười cho biết điều thứ hai còn ghê gớm hơn: thị trấn ấychính là nơi xưa kia dưới thời Sa Hòang trước ngày Cách mạng tháng Mười bùng nổ vị lãnh tụ của giai cấp vô sản Nga Vladimi Ilitch Lê nin đã từng bị đi đầy. Nhiều năm trôi qua bây giờ tôi không còn nhớ đích xác tên cái thị trấn nằm giữa vùng băng tuyết heo hút Siberi nhưng tôi đoan chắc với các bạn nó đã được ghi rành rõ trong cuốn Lịch sử Đảng Cộng sản Liên Xô hoặc Tiểu sử Lênin! Nghe tôi báo tin ấy không chỉ đòan trưởng Lê Chí mà các đòan viên như Trung Trung Đỉnh Chu Lai Bế Kiến Quốc Pờ Sảo mìn Vũ Quần Phương Trần Mạnh Hảo Ngô Thị Kim Cúc...đều phát hỏang cả lên. Đường xá xa xôi cách trở như vậy nhà thơ xứ Nghệ lại mới ra nước ngòai mới đến nước Nga lần này là lần đầu tiếng Nga hòan tòan không rành. Nhỡ anh lạc đường hoặc đau ốm cảm mạo thì sao đây? Cũng không ai có thể bỏ dở chương trình tập huấn để tháp tùng anh cả. Còn chuyện nhờ vả nhà trường trợ giúp xem ra rất phiền phức lôi thôi. Đòan trưởng Lê Chí nói với chúng tôi cùng xúm vào khuyên Thạch Quỳ mau gạt phắt dự định đó đi. Nghe vậy Thạch Quỳ nổi quạu :
-Tau sang đây đi học là phụ đi thăm con là chính-Thạch Quỳ thủng thẳng nhưng cương quyết -Bọn mi đặt vào địa vị tau mà coi- con làm ăn luơng bổng ra răng sống chết ra răng thằng cha không hay liệu ngồi học chữ có vô đầu?
 Ai đó nhẩy vào cuộc:
-Đấy là nơi xưa kia cụ Lê Nin bị đi đầy ông biết chứ ?
- Ông Lê Nin bị đi đầy ở đó đâu có chết mà vẫn trở về làm được cả một cuộc cách mạng.Bay dọa tau tau nỏ sợ mô!
Cứ thế ! Nhà thơ không chịu thua ai.
 Ba ngày sau Thạch Quỳ khoe Lê Chí và tôi tấm vé tầu anh đã mua. Anh kéo tôi ra một góc móc túi trao cho tôi một tập vở học sinh. Tôi chưa biết chuyện gì xẩy ra nhà thơ nói luôn:
-Sách XIN ĂN đây! Tau học tập bọn giặc lái Mỹ đó mà! Chương mục đã chia đàng hòang. Phía tiếng Việt tau đã ghi rành rõ mi dịch cho tau qua tiếng Nga..
 Chờ Thạch Quỳ đi khỏi tôi lật từng trang cuốn vở tập học trò mà không khỏi bật cười. Cuốn tập được chia như một thứ tự điển có những tiểu mục hẳn hoi tên tiểu mục ghi bằng bút đỏ. Ví như: XUẤT XỨ LẠC ĐƯỜNG MẤT TIỀN -XIN ĂN MẮC BỆNH. Dưới mỗi tiều mục là những dòng chữ Việt xếp thành hàng ngang tôi sẽ giúp anh chuyển ngữ sang tiếng Nga. Ví như ở tiểu mục XUẤT XỨ. Tên: Thạch Quỳ. Công dân: Nước Cộng Hòa Xã hội chủ nghĩa Việt nam. Nghề Nghiệp: Nhà thơ. Công tác: Hiện đang theo học khóa bồi dưỡng viết văn tại Viện văn học Gorki. Địa chỉ cần liên hệ: Thành phố Moskva. Đường phố...số nhà.. Điện thọai...Ví như tiểu mục MẤT TIỀN-XIN ĂN. Lý do xin ăn: bị mất sạch cả tiền. Đã chịu đói mấy... ngày. .Cám ơn đã nuôi sống tôi...ngày. Mua cho tôi tấm vé trở về Moskva và cung cấp cho tôi ...ngày thực phẩm nước uống.. Ví như ở tiểu mục MẮC BỆNH. Thấy người ớn lạnh hâm hấp sốt. Tôi không mang theo nhiệt kế hãy đo nhiệt độ cho tôi. Tôi bị đau bụng đã... ngày không khỏi. Tiền sử nghi bị lóet bờ cong dạ dày...
 Hôm sau khi trao lại cuốn tập vở cho nhà thơ tôi sững người hỏi anh:
-Tôi dịch chuẩn cả rồi! Nhưng anh không biết tiếng Nga sao anh phát âm nổi để người Nga hiểu ?
 Nhà thơ nạt nộ:
-Học hành chi cho lắm mà vẫn ngu rứa? Tau không cần đọc tiếng Nga của bọn bay. Cần nói điều gì tau tìm câu tiếng Việt mà dùng ngón trỏ di ngang sang câu mi đã dịch qua tiếng Nga người Nga khắc hiểu.
 Nói như cánh M.C bây giờ tôi sẽ huơ tay cao trên đầu và reo vang: Vâng với cuốn số tay ĂN XIN đó Thạch Quỳ đã vượt qua cả một đọan đường rất dài đã đi cắt ngang cả nước Nga mênh mông để tìm tới cái thị trấn xa xôi ở vùng Sibêri tuyết trắng kia thăm cậu con trai.Mũ lông thả cả hai dải che tai xuống buộc chặt ở cầm;chiếc áo dạ màu nâu vừa cũ vừa đã sờn rách không rõ nhà thơ mượn ở đâu buông vạt lệt xệt chấm gót chân; chiếc balô lép kẹp lắc lẻo phía sau lưng nom nhà thơ xứ Nghệ vừa giống một nhà truyền giáo Nga thế kỷ 16 vừa giống một gã mudic Nga nghèo đói đương đại cứ thế lên tầu nhà thơ xứ Nghệ nhắm hướng Đông thẳng tiến! Một ngày ba ngày một tuần trôi qua vẫn biệt vô âm tín. Thuở đó chưa hề có điện thọai di động. Tàu chạy băng băng chắc nhà thơ cũng khó tìm ra chòi bưu điện ở những ga xép trên đường mà nhắn tin cho chúng tôi. Hoặc anh đã quyết chí đi việc thông báo anh đã đến đâu khỏe hay bệnh-theo anh cũng là điều vô ích?
 Nói thành thật khi chúng tôi hầu như quên bẵng sự hiện diện của Thạch Quỳ trong khóa học lần đó nhà thơ bỗng sừng sững xuất hiện ngay trước mặt chúng tôi. Vẫn như một nhà truyền giáo hay một gã mudic song vui vẻ tươi tắn đầy tự tin Thạch Quỳ lặp đi lặp lại chỉ một câu: " Bọn bay thấy chưa! Có chết được mô ? ".
 Nhà thơ cho biết con trai anh khỏe mạnh lương bổng hậu hĩ ăn uống đầy đủ lên 3 ký không những không xin tiền bố mà còn gửi bố tiền để bố mua quà mang về cho mẹ cho các em. Có ai đó cất tiếng hỏi cả đọan đường đi về có lúc nào anh cần phải dùng tới cuốn sổ XIN ĂN không nhà thơ cười hơ hơ hồn nhiên tay xua xua thủng thẳng kể cho chúng tôi nghe câu chuyện sau đây..
 Nằm cuộn tròn trên chiếc giường áp sát trần tầu một đêm và nửa ngày nhà thơ bỗng cảm thấy phí thời gian anh quyết định ngay trên tầu phải thâm nhập cuộc sống của dân Nga. Lợi dụng một lúc thuận tiện anh nhẩy xuống sàn tầu vỗ tay vào ngực mình kêu to: " Việt Nam! Việt nam!". Đám hành khách trong toa sững sờ một lát chợt hiểu ra nhẩy cẫng lên hò reo: " Viet nam ! Voina pobeda ! American go home!" ( Việt nam chiến thắng! Mỹ đã xéo về nước !". sau những tiếng reo hò ấy những bình rượu vốt ca ủ trong làn mây bị cói được kéo ra. Cá muối thịt xông khói bơ miếng hành lá rau mùi.. được kéo ra..Ly cụng chan chát. Rượu chảy xuống bao tử ồng ộc. Thêm ly nữa cao hứng nhà thơ xứ Nghệ đập tiếp vào ngực mình thốt ra một chữ tiếng Nga khá chuẩn:"Poet" ( nhà thơ). Lập tức những tràng vỗ tay những tiếng "Ura ura"  rộ lên hưởng ứng.
Thạch Quỳ:
-Tau nỏ biết tiếng Nga nhưng tau đọc thơ tau theo kiểu ông Maiacốpxki.Sợ chi mô! Nghĩa là vung tay ra rút tay vào ngửa mặt nhìn lên trời cúi mặt nhìn xuống đất tiến lên một bước lùi lại môt bước. Đám hành khách Nga hiểu hết những điều thơ mình định nói. Cứ thế lu bù say ngày qua ngày đêm qua đêm. Rượu vốtca và tuyết trắng vùng Sibêri còn gì hài hòa uyển chuyển hơn! Tốp hành khách này xuống ga họ liền giới thiệu tau với tốp hành khách khác. Tầu tới ga họ còn đưa tau tới tận nơi thằng con trai tau làm việc. Đi cũng tưng bừng vui vẻ như thế. Mà về cũng vậy. Chẳng tốn cắc bạc nào!
 Câu chuyện trên xẩy ra vào những ngày đầu đông năm 1988. Mùa hè năm 2001 tôi được đi trong chuyến xuyên Việt với các văn nghệ sỹ tên tuổi do hãng Toyota tài trợ. Mười chiếc xe mới cóng thong dong từ Hà nội đưa chúng tôi lên thăm Nà lừa thị xã Cao bằng hồ Ba Bể sau đó tiếp tục xuôi về qua Hà nội rẽ vào thăm cố đô Hoa Lư Nam đàn-quê Bác. Buổi chiều đòan dừng ở Vinh Hội văn học nghệ thuật Nghệ an mở tiệc khỏan đãi khá thịnh sọan. Tôi nhận ngay ra bóng dáng cao gày cùng vẻ khắc khổ của Thạch Quỳ từ xa. Vốn ngại ngồi chung bàn với những tên tuổi văn chương quá nổi tiếng tôi muốn tới bắt tay anh song lưỡng lự chần chừ. Nhưng Thạch Quỳ đã nhận ra tôi anh chạy tới xiết chặt tay tôi thăm hỏi rối rít. Giữa chừng câu chuyện nhà thơ đột ngột hỏi tôi:
-Còn nhớ chuyến mình tới nơi ông Lênin đi đầy thăm thằng con năm sang Nga không ? Tôi gậtliền mấy cái . Anh vui vẻ tiếp lời- Thằng ấy bây chừ làm ăn khá lắm. Thành ông chủ rồi!
 Tôi chúc mừng Thạch Quỳ và trong đầu bỗng nhớ ngay tới hai câu thơ của anh về đất về đá xứ Nghệ:
Đào đất lên nơi nào cũng đỏ
Đập đá ra có ánh lửa ngời...

More...

Tản mạn bìa thơ... - VC

By VƯƠNG CƯỜNG

 

Tản mạn bìa thơ...
VƯƠNG CƯỜNG

     
Nhớ lại khi chưa vào thi tôi tưởng khó lắm. Nào ngờ đề thi là một quả cam đặt vào trong cái đĩa. Thằng N nói tao vẽ thêm cái lá sống động như thật. Tôi bảo tao còn vẽ thêm cái dao inox sáng loáng. Thằng M chẳng biết nói gì vì nó chỉ vẽ vài nét.

Gần một tháng hồi hộp chờ đợi ngày công bố 30 tên trong số 400 tên dự thi đỗ sang học Kiến trúc ba thằng căng mắt dò danh sách lần nào cũng chỉ thấy tên thằng M mà tôi và N không thấy đâu.
     
Mấy chục năm rồi cũng dần mở mắt ra. Vẽ đâu phải giống? Vẽ là hồn qua đường nét hình khối màu sắc bố cục... Một lần xem cái bìa Tảng đá và một nhành cây của anh Thạch Quỳ chị Xuân Quỳnh nói như đổ mực vào giấy! Văn Sáng vẽ bìa Đám mây hình thiếu phụ có người nói giá như chỉ điểm màu tím thôi đúng chỗ trên nền trắng có khi lại hay...
     
Nếu tên tập thơ Cô gái và bông lau họa sỹ vẽ ngay một cô gái và vài bông lau trên nền trắng. Tập thơ Cỏ non thì vẽ một cánh đồng xanh um những cỏ là cỏ tràn ra hết cả bìa còn chữ thì kẻ trang nghiêm như khẩu hiệu tách ra khỏi bức tranh những hình ảnh ấy lấy trên mạng.
    
Bên cạnh nhà tôi có hai người hàng xóm mua áo cho con bà ở quê ra thì mua màu xanh đỏ tím vàng. Bà người HN thì mua quần áo màu nền ẩn và hoa chìm. Hai đứa trẻ mặc vào thấy rõ một đứa mang đầy đủ chất quê một đứa mang chất thị thành. 
Chẳng biết đúng sai tôi vẫn thích bìa thơ của Nguyễn trọng Tạo Văn Sáng Lương Xuân Đoàn.. hình như có thơ!

ĐẮNG & NGỌT ĐẸP HƠN

     
Nhà văn Trang Thế Hy được người ta bỏ tiền ra in tập thơ đầu tay. Mọi người trịnh trọng mang đến tận nhà cho ông. Sau giây phút cảm động ông nói chỉ tội cái bìa xấu quá!     
      Thơ viết bằng hồn chắt lọc một đời mà bìa thì vẽ một buổi suy luận từ cái tên! Ông Trang Thế Hy rất tôn trọng giá trị thơ. Không phải ai biết vẽ cũng vẽ được bìa thơ. Tập thơ hay nhưng vì bìa xấu người ta ít đọc. Nghệ thuật thơ ca không thể song hành cùng với kiểu giản đơn tả thực. Thơ là ẩn dụ thơ là hồn được mô phỏng có nhạc điệu. Tập thơ hay có thể bị giết chết bởi cái bìa thô thiển...

More...

Tôi rối tóc mình trước bạn tôi...VC

By VƯƠNG CƯỜNG

 

Tôi rối tóc mình trước bạn tôi...
( Đọc bài thơ NGHĨA TRANG CHIỀU của THẠCH QUỲ )

      Khi chị Xuân Quỳnh mất anh Thạch Quỳ không về HN đưa tiễn được. Điều này luôn ám ảnh anh. Nhiều lần anh nói với tôi về nỗi buồn đó. Tôi bảo về được là tốt nhưng mình còn cả một đời đối xử với chị ấy cơ mà. Tôi không dám chắc anh Thạch Quỳ có nghe tôi nói không chỉ biết rằng nhiều khi anh nói XQ mất đi với anh là một tổn thất lớn. Một lần ra HN anh Thạch Quỳ về nơi chị XQ yên nghỉ anh đi một mình mà không rủ tôi đi. Bài thơ trên ra đời vào lần đi một mình ấy. Tôi biết anh TQ thường thế vui thì rủ tôi muốn sống tận cùng cảm xúc buồn thường chỉ một mình.
Cỏ xanh gió thổi ngang mồ bạn
bóng chiều sót lại vẫn mình tôi
      Nghĩa trang chiều thật buồn cô lẻ. Chỉ có ba hình ảnh một nấm mồ bạn một tác giả sót lại và một bóng chiều. Chiều ở đây là mút chiều một tấm phông liên tục chuyển nhưng chỉ một màu im lặng mặc dù có gió tạo nên đỉnh cao nhất của nỗi buồn. Người thơ không khóc. Nhưng nỗi lòng rung lên nấc nghẹn lên từng cơn người thơ tự nhủ lòng mình tự bào chữa cho lòng mình tự an ủi với lòng mình. Nhưng càng an ủi càng bào chữa càng tự nhủ thì dường như tất cả đã phản lại người thơ. Đứng trước bạn gần mà xa quá   thời gian trở lại ngày xưa. Thuở ấy hai chữ đó trong buổi chiều tàn càng làm cho không gian và thời gian như xám lại. Câu thơ Thuở ấy trang nghiêm cả nụ cười như một sự bồi hồi pha lẫn sự hối tiếc xót xa có nụ cười mà không làm cho không gian bớt buồn mà như còn buồn hơn. Nhà thơ Xuân Quỳnh không hiện hữu chỉ nấm mồ là hiện hữu thôi. Ấy mà hai người đang trò chuyện với nhau. Nói một mình hay hai mình cũng thế ở họ là một. Nước mắt cũng không nói được gì nữa thương nhớ cũng chẳng còn ý nghĩa gì nữa!
nước mắt hay chi dài thương cảm
thuở ấy trang nghiêm cả nụ cười
      Trong nỗi đau cô đơn ấy nhà thơ nói và nghĩ gì với bạn mình. Khi còn sống những năm được làm bạn của nhau hai người luôn luôn nói với nhau về thơ về đời rất tâm đắc. Chính vì vậy mà giờ đây biết nói với ai vì chữ nghĩa đâu phải nói với ai cũng được. Cái chết đã mang bạn đi tạo ra sự chia cắt giờ chỉ còn nói với một mình thôi. Lòng thơ ngày nào thao thiết chảy giữa hai người như dòng sông chảy giữa hai bờ. Giờ đây đâu còn nữa. Phân vân nên lặng hay nên nói sự giằng xé này trong tâm người thơ cho thấy sự mất mát quá lớn khi bạn tâm đắc đã đi xa. 
      Giờ đây anh Thạch Quỳ dường như rất ít nói thường với tôi anh em hay nói nhiều với nhau. Một lần tôi nói sao daọ này anh ít nói thế. Anh bảo biết hết rồi nên càng biết là không nên nói! Vốn người rất trẻ trong tâm hồn và chín chắn ý nghĩ trước cuộc đời bỗng thấy cần im lặng. Lúc ấy tôi nhớ chị Xuân Quỳnh nếu chị ấy còn liệu anh tôi có nói với chị Xuân Quỳnh như vậy không? Tôi lại nhớ Raxun Gam za tóp: Người ta mất hai năm học nói mất sáu mươi năm học im lặng. 
      Trong tất cả những bạn thơ có lẽ Xuân Quỳnh là người anh Thạch Quỳ yêu quý nhất và ngược lại Xuân Quỳnh cũng quý trọng anh Thạch Quỳ như thế. Tôi hiểu không có chuyện gì hai người không nói với nhau cả riêng chung. Có những khi nói đến một ai đó bao giờ chị Xuân Quỳnh cũng dặn thêm tôi chỉ nói với anh thôi nhé. Những bức thư gửi qua bưu điện hoặc gửi tay cho ai đó đều nặng tình cảm và tin cậy nhau lắm. Chị Xuân Quỳnh là người rất thông minh nhạy cảm đặc biệt và thẳng thắn pha chút hóm hỉnh. Anh Thạch Quỳ hay nói chuyện với tôi về chị Xuân Quỳnh nhất. Trong các câu chuyện đó tôi biết có khi quá ra một chút. Ví như ở nước ta không ai có tâm hồn nhạy cảm bằng Xuân Quỳnh. Dù như thế nào thì ấn tượng của tôi về chị Xuân Quỳnh rất tốt đẹp từ khi còn là cậu học trò trường làng. Năm 1965 hay sao ấy hội nhà văn cử chị Xuân Quỳnh vào dự đại hội thành lập hội văn học nghệ thuật Nghệ An. Trên đường về bên cạnh đường vào nhà tập thể có bảng viết:" Ai là Quỳ vào Quỳnh gặp!" Anh Thạch Quỳ theo lối vào gõ cửa thấy Xuân Quỳnh đang nằm đọc sách. Anh Thạch Quỳ rụt rè vào ra đều khó quay mặt đi thì nghe: Bỏ cái thói nhà quê ấy đi vào đây! Đấy lần đầu tiên hai người gặp và biết nhau như thế đấy và từ đó trở đi thành đôi bạn thân thiết. Thân thiết đến mức những năm bao cấp chị Quỳnh viết thư cho anh Thạch Quỳ bảo tìm tem gạo gửi ra HN cho chị ấy " bí mật nuôi nhau ".Chị thường gửi áo quần cũ vào cho con anh Thạch Quỳ. Viết xong bài thơ nào chị cũng chép tay gửi vào cho anh Thạch Quỳ.
      Tôi muốn nhắc lại chuyện có tính riêng tư trên để hiểu sự đau xót của anh Thạch Quỳ như thế nào khi đứng trước mộ chị Xuân Quỳnh.
Còn đáng bận tâm cùng chữ nghĩa
hay lòng nên lặng trước buồn vui
      Tất cả những ý nghĩ của người thơ như hỗn loạn một cơn gió thổi qua nhưng không qua được cứ quẩn quanh trên mồ bạn hay là ý nghĩ của cả hai người. Hình ảnh thơ này thật đắt bởi nó diễn tả được cái đầy cái rối loạn cái nhớ thương cái cảm mến bạn mình hòa với thiên nhiên. Cơn gió ấy thật là cơn gió thơ. Gió rối là bên ngoài tóc rối tưởng ngoài mà lại bên trong. Hai câu thơ này trên nền của bóng chiều đã đẩy bài thơ lên tận đỉnh. Nỗi đau trong đã cộng hưởng với nỗi đau ngoài thành nỗi đau không diễn tả được. Tự cảnh mà nói tình tự màu sắc mà nói cảm:
bây giờ gió rối trong màu cỏ
tôi rối tóc mình trước bạn tôi
      Như vừa ra khỏi trận cuồng phong người thơ lại có gì rất tỉnh táo:
Kỷ niệm còn nhắc nữa?
hay dở chuyện qua rồi
Sau khi nhà thơ Xuân Quỳnh mất nhà thơ Thạch Quỳ đã viết:
..." Giao thừa năm 1969 Quỳnh viết cho tôi bức thư dài 16 trang . Tết nhất đã làm cho Quỳnh thêm cô độc " Tôi quằn quại giẫy dụa suốt đêm không chợp mắt được .Bao nhiêu đêm dài dặc . Có hôm tôi đã dậy sờ soạng lục tìm được 12 viên thuốc ngủ "
... Đấy là những năm tháng khát vọng quấy đảo tâm hồn . Mơ ước trở nên khủng hoảng trước hiện thực . " Không có tình yêu không có hạnh phúc không có gì hết ". Mệt mỏi quá Quỳnh nói thế .Chán nản quá lại an ủi : " May ra có thể tin được vào cái do mình làm ra " . Trái tim nhạy cảm đó luôn quằn quại rên xiết trước khát vọng tình yêu hạnh phúc lớn lao . Đó là cội nguồn của tập thơ Gió Lào cát trắng mà sau này nhiều người đánh giá là tập thơ hay nhất của Xuân Quỳnh . Tập thơ ấy ra đời khi tác giả của nó sống tận cùng nỗi đau quằn quại của trái tim mình " .
..." Hơn hai mươi năm bầu bạn tôi có chút ân hận với Quỳnh . Ấy là năm 1980 sau sự việc bài thơ với con tôi ra Hà Nội . Tôi đi thẳng vào cổng hội nhà văn . Từ phía  trong Quỳnh hớn hở chạy ra và vui sướng hét lên :" Từ cõi chết anh trở về chói lọi " . Lúc đó tôi nghiêm mặt lại và nói :" Người ta không đùa như bà đâu !" . Quỳnh bị dội nước lã bất ngờ ỉu xìu như quả bóng hết hơi . Sau này tôi ân hận mãi về hành động đó của mình . Thực ra trước đó những sự kiện phi văn hoá đã quấy nhiễu tôi đến mệt mỏi . Với tấm long độ lượng vốn có từ thế giới bên kia mong bạn tha thứ cho tôi ở thế giới bên này "...
      Tất cả đã qua rồi. Câu thơ đau thắt bóng chiều rơi đời người như không gì quan trọng hết...
cỏ xanh tròn nấm mộ
yên lặng bóng chiều rơi...
      Hình ảnh yên lặng quá sao ta lại không thể lặng yên? Bài thơ không có lời đề tưởng nhớ sao đọc lên vẫn biết tác giả viết cho chị Xuân Quỳnh? Bài thơ tưởng như chỉ nói đến tình cảm riêng với một người bạn đã mất sao khi đọc ta lại thấy cái vô cùng và cả cái vô nghĩa với một đời người. Sao đôi khi phía sau chữ nghĩa và hình ảnh rất buồn lại như chứa một sức sống mạnh liệt? Phải chăng đó là một minh chứng sức mạnh của thơ ca...

HN 21-5-2010
VC

 

NGHĨA TRANG CHIỀU                     
THẠCH QUỲ

Cỏ xanh gió thổi ngang mồ bạn
bóng chiều sót lại vẫn mình tôi
nước mắt hay chi dài thương cảm
thuở ấy trang nghiêm cả nụ cười

Còn đáng bận tâm cùng chữ nghĩa
hay lòng nên lặng trước buồn vui
bây giờ gió rối trong màu cỏ
tôi rối tóc mình trước bạn tôi

Kỷ niệm còn nhắc nữa?
hay dở chuyện qua rồi
cỏ xanh tròn nấm mộ
yên lặng bóng chiều rơi...

More...

THẠCH QUỲ - Người nuôi ảo mộng giữa chiêm bao - THÁI DOÃN HIỂU

By VƯƠNG CƯỜNG


 

THẠCH QUỲ - Người nuôi ảo mộng giữa chiêm bao
THÁI DOÃN HIỂU

     
Thạch Quỳ là nhà thơ rất nhạy bén trong việc nắm bắt thông tin và chóng vánh tìm ra ngay bản chất đối tượng. Anh làm thơ hoàn toàn bằng mẫn cảm thiên phú. Thơ Thạch Quỳ là thứ thơ có phần nhỉnh hơn mọi lý thuyết về thơ.
Có mùi mật trong hoa
Điều đó chú ong vàng cũng biết
Có hương thơm ẩn giữa sắc màu
Cái chuyện này bướm tím biết từ lâu!
Nhưng bạn ạ! Hương trầm trong gỗ mục
Thì ong vàng bướm tím có hay đâu...
(Luận về hoa)
     
Khi làm thơ Thạch Quỳ luôn tìm ra "Hương trầm trong gỗ mục". Đấy là tài năng và cũng là thi pháp nổi trội của anh. Bạn đọc có thể lấy điều ấy làm chìa khóa giúp tiến sâu vào địa hạt thơ ca Thạch Quỳ để khám phá và hiểu biết.Thạch Quỳ đã cho in 7 tập thơ nhưng người không có khái niệm về hai tiếng "tập thơ" thường lấy đơn vị bài làm thước đo bản vị cao thấp thơ mình.

*
     
Thơ Thạch Quỳ là một thứ thơ bản ngã nguyên chất. Nhà thơ luôn luôn tìm cách nói về mình và nhân danh mình để viết. Anh bảo "Thân thể tôi như chiếc cột ăng ten - Vừa phát sóng vừa tự mình rỉ sét". Nhà thơ ráo riết đi tìm cái tôi bị đời đánh cắp đánh tráo đồng hóa giữa một cuộc sống chẳng êm ả chút nào bao giờ cũng gập ghềnh đầy tai biến. Là người có khí phách và cá tính mạnh Thạch Quỳ đã hứng chịu nhiều tai bay vạ gió "Từng đối mặt với bạo tàn chết chóc - Máu trào tuôn sẹo đóng tự trong hồn - Tôi mệt mỏi đến không còn sợ chết - Nhưng vẫn lòng ham sống thật tôi hơn" (Tôi). Thạch Quỳ từng sống trong tâm trạng "Anh đã đi như người trong mộng - Anh đã bơi như người trong sóng" và lâm vào tình huống không mấy sáng sủa "anh đã khô kiệt cùng đá sỏi - anh đã kêu kiệt cùng tiếng gọi - anh đã mơ cạn kiệt giấc mơ" (Cuối cùng vẫn một mình em). Không còn cách nào khác trời thấp nhà thơ buộc phải đi còm "Len lỏi giữa thiên thần yêu quái - Lẽo đẽo bóng mình dị dạng sau chân..." (Đêm vườn rừng). Một sự giằng xé nội tâm quyết liệt ảo giác dày đặc bủa vây Thạch Quỳ "Bàng hoàng giữa một ngày - Mình sống hay chẳng sống?" (Không đề) thi nhân cảm thấy mình rất đơn chiếc "Nghìn năm rồi biển hát - Một bài ca chán nhàm - Tôi nghìn năm trước biển - Dấu chân còn lang thang" (Viết trước biển). Giữa mênh mông tuyết trắng rợn ngợp không bến bờ ở xứ người anh thấy mình chỉ là một "chấm nhỏ giữa bốn bề hư vô" (Tuyết). Từ những chiêm nghiệm vật vã đau đớn đó Thạch Quỳ đã nhận ra "hạnh phúc trang nghiêm trong thất vọng kiếm tìm". Và giữa đời thường nhà thơ khác thường này cũng có lúc bế tắc "Rồi dẫm chân tại chỗ - Tôi quẩn theo bóng mình" buông xuôi tay chán ngán "Tôi chẳng còn chính tôi - Thơ nối dài chi nữa" (Thư). Nhà thơ tự thấy mình là một người thừa giữa nhân thế:
Điều tôi nói chừng Chúa Trời chưa biết
Phật chưa nghe và Trời cứ làm thinh
Tôi nhỏ nhoi tồn tại chính mình
Nhân danh một chính mình tồn tại
(Tự khúc mùa xuân)
Đó là sự "mềm yếu" tinh thần cao cả duy nhất của Thạch Quỳ
Lỗi lầm chủ yếu và lớn nhất của Thạch Quỳ là có khá nhiều lỗi nhỏ. Thạch Quỳ làm chủ ý chí và thành tâm làm kẻ nô bộc cho lương tâm của anh. Người có lương tâm trong sạch giúp định hướng cho cuộc đời vào con đường ngay thẳng tươi sáng và có thể chịu đựng được những thử thách nghiệt ngã.
     
Khi lương tâm bảo thì phải tuân lệnh. Sống đừng để lương tri khiển trách và chớ trốn chạy sự quở mắng của tục nhân. Trước pháp đình của nhân cách chẳng có ai làm chứng trung thực bằng lương tâm. Nó là vị quan tòa thiếu tư cách pháp nhân nhưng lại thừa đạo hạnh. Lương tâm chính trực và tỉnh táo luôn minh chứng cho anh tất cả tốt hơn mọi lời tụng ca hay xỏ xiên xằng bậy.
     
Thạch Quỳ đến với nghề văn thật gian nan. Nhà thơ đã từng kể về công việc làm thơ của anh: "Khoảng 15 năm tôi phải sáng tác trong phòng ngủ tập thể. Lúc 11 giờ đêm họ tắt đèn đi ngủ tôi dùng bút chì để ghi chừng viết mò trong bóng tối. Tôi thức thâu đêm từ đó thành thói quen. Viết văn làm thơ trái với nghề chính nên phải vụng trộm giấu lén và luôn bị khích bác. Nhưng lòng say mê đã thắng. Tôi luôn luôn hướng tới những cuộc cách mạng những vụ bùng nổ trong tâm hồn con người để đến với cái đẹp" (Tự bạch). Thạch Quỳ rất dễ thơ thấy bất cứ cái gì điều gì anh đều nhanh nhẹn nghĩ ra một cái gì đó khác người để viết: thuốc lá tim đàn tế trời hồ Kẻ Gỗ đền Cuông khó ngủ khói tôi... Anh ưa cười. Phiếm luận của anh toàn giọng bỡn cợt chòng ghẹo buông tuồng nhưng mà đau ánh lên chất thông minh quái quỷ.
     
Với thơ Thạch Quỳ có những hình ảnh ví von thật đạt "Trung liên quây như chảo mật đang sôi"; những nhận xét tinh vi "Đỉnh sừng nhô hai hạt nếp trắng tinh" (Trâu đi) "Dưới cao vợi sao dày như nếp nổ" (Tiễn em trai đi vào tiễn em gái đi ra). Nhà thơ như một lão nông quan sát kỹ không bỏ sót đến cả "Bọt trứng vàng gốc lúa bùn sâu nằm sủi tăm"; những hình ảnh về chiến tranh gây ấn tượng "Có thành phố nào như thành phố này không - Chưa thấy nhà cao chói lọi sắc hồng - Đã thấy sắc hồng cười trong gạch vụn" (Gạch vụn thành Vinh). Thạch Quỳ dựng được những thi tứ rút ra từ trong khoảnh khắc hiếm hoi "Những con bê - bom xẻ đôi bò mẹ - Vẫn ngậm nguyên núm vú nhay hoài" (Tâm sự thần sấm sét...) và "Những hàm răng xích xe tăng - Đang nhai nghiến ruộng vườn trong lửa đỏ". Nói về cái khốc liệt của thiên nhiên ở một vùng quê anh tả gió Lào nóng bỏng "Cây trâm bầu gió nhổ rồi - quẳng lên cả rễ ngang trời mà quay" giữa hối hả âm thanh "Tiếng đa đa kêu vỡ đá gầy". Anh có những câu "độc" "Chiêm bao gặp mộ mình không cỏ mọc - Riêng điều này là nỗi sợ của tôi" (Bên lề cỏ Uýtman). Thơ Thạch Quỳ có nhiều câu rắn đanh chứa chất tục ngữ "Giọt mưa gom hạt bụi hóa phù sa" (Gom nhặt trên bãi bom B.52) bên những câu dân dã đầy kỷ niệm tuổi thơ "Trẻ chăn trâu cổ quấn dây thừng - Nhảy và hát khúc đồng dao cúng quắng" (Ghi chép ở đền Khai Long). Nhà thơ hay đặt những câu hỏi oái oăm làm người đọc chau mày sau đó mới vỡ ra nhiều lẽ "Nghìn năm mưa đã từng mưa - Thấm vào viên sỏi hay chưa thấm vào?" (Lời nghìn năm). Bằng cảm quan lịch sử và văn hóa cao Thạch Quỳ có sự nhìn nhận để thể tất nhân tình trước bi kịch nước mất nhà tan của cha con An Dương Vương - Mỵ Châu "Lưỡi gươm ròng ròng máu tươi - Nước mắt ướt đầm yên ngựa - Chỉ có đất với trời và cỏ - Hiểu đường đi của giọt máu người" (Qua đền Cuông ghi chuyện cũ). Thạch Quỳ nghe từ màu sắc nhìn từ âm thanh "Lặng im trên cát con sò - Nằm nghe sắc tím đổi mùa trên lưng" (Làng cát). Tâm hồn nghệ sĩ đó luôn lay động tỉnh thức thâu tóm được cả trời biển trong một ngấn sóng trên bức tường bất động "Với Lan Châu ngấn sóng ánh trên tường - Luôn luôn động theo nhịp trời nhịp biển". Thạch Quỳ hào hoa với Huế "Xao xác cả trưa hè trong phượng chói" (Huế) cảm được "Thuyền đêm nằm đợi bóng trăng hoang" (Thôn Vỹ) hiểu được "một trăng suông nhạt chòng chành đáy sông" thương được "Cái chân ai bước giữa vòng nam ai" (Đêm sông Hương).
Cũng như Cao Bá Quát Nguyễn Công Trứ Tản Đà Tú Xương... Thạch Quỳ luôn thấm thía cái sự nghèo của mình. Nghèo thì hèn. Giàu có quá là ăn cắp nhưng cùng khốn quá là bởi bị đánh cắp. Luân lý trọng lợi hủy hoại vẻ đẹp của tâm hồn vô hiệu hóa nhân đức bêu riếu lịch sử và treo một chiếc gương tối tăm cho lớp trẻ. Ai đó cùng than nghèo khó sống giàu khó chết. Người nghèo thường sống rất tử tế. Đừng khinh nghèo chớ cậy giàu. Người Anh bảo "Nghèo không phải là điều xấu hổ nhưng xấu hổ vì nghèo mới là nghèo". Thạch Quỳ có hai câu thơ vẽ chân dung mình rất Nghệ: "Cái nghèo đội nón cời và nhón chân đi từng bước - Cười sưa răng trên miệng ấm sứt vòi" (Cái nghèo). Anh chỉ tên vạch mặt cái nghèo "Mày núp trong vừng trán mẹ răn reo - Mày ẩn dưới gót chân em nứt nẻ - Mày luồn qua trăm ngàn mối chỉ - Để nằm trong mảnh vá áo con ta" "Đêm ta ngủ thì mày hóa kiến - Bò nôn nao trong ruột đói của ta". Anh thảng thốt phát hiện ra "cái nghèo có nọc - Đốt cha ông từ thuở chẳng chăn màn" "cái nghèo xơ trên bộ cánh làm sang - Cái nghèo xác lại nằm trơ đáy đĩa" (Cái nghèo). Sách Luận ngữ dạy "Nghèo không oán mới khó giàu không kiêu còn dễ". Nghèo túng nhưng vẫn chơi sang "Nhà thơ nuôi họa mi - Hót xanh trời trứng sáo" vẫn lãng mạn "Tôi chờ ai nữa? Mùa thu rộng - Gió thả bên trời lá liễu bay" (Mây trắng mùa thu) vẫn cốt cách phong lưu "Mơ một lần quẫy đạp - Ngập chìm trong sóng xanh" (Cỏ) vẫn trẻ trung phơi phới "Cỏ đừng già cỏ nhé - Dù tuổi thơ qua rồi - Đất giữ gìn cho cỏ - Cỏ giữ gìn cho tôi" (Cỏ) vẫn hây hây lồng lộng hồi sinh khi nhìn ngắm:
Con chim hót nhả hạt cây
Tiếng chim xanh ở trong tay người trồng
Qua bạch đàn đã đến thông
Thấy cây đang độ đuôi công múa xòe
Thấy cây thắp nến bốn bề
Rưng rưng nghìn búp hướng về trời cao
Mùa xuân thả nắng chiêm bao
Thả mưa bụi phấn bay vào rừng thông
Mùa xuân thả nắng mật ong
Cho cây lá nhọn đứng hong nhựa vàng
...
Lá thông là thực hay mơ
Nửa buông như chỉ nửa mờ như mây.
(Lục bát về thông)
May thay cái nghèo là nguồn năng lượng kích thích sáng tạo nghệ thuật. Nhà thơ vẫn cứ mộng du giữa đời thực đang chực giơ nanh vuốt "Cỏ biếc bờ xanh đường sá rộng - Mình tôi lạc giữa ngõ ra vào" (Mây trắng mùa thu) vẫn thủy chung với thơ "thỉnh thoảng nàng thơ ghé đến - Rồi lướt đi không biết đã về đâu..." (Gửi em); vẫn phấp phỏng với người tình bé nhỏ:
Trời đã tết. Khói xanh mờ bụi nước
Góc vườn con hoa mận đã đơm khuy
Lòng như đất lặng thầm mơ dấu guốc
Cỏ thanh thiên hoa trắng đợi em về.
(Đợi em ngày giáp tết)
Vẫn yêu một tình yêu "dan díu" say đắm run lên như thuở ban đầu mặc cho "nhỡ bước chân qua" mặc cho "Em quay lại đã trắng mùa trên tay..." (Bước xuân) phó cho quy luật của trái tim nổi loạn:
Có một nửa đang đi tìm một nửa
Như vầng trăng ngoài cửa phía trời xa...
Anh yêu em hơn thần thánh yêu nhau
Một khẽ chạm tay rung toàn thân thể
Và bởi vậy tình yêu trần thế
Đủ để thánh thần mơ ước trên cao
(Không đề)
Đã thế người vẫn cứ cao giọng lý sự:
Cuối ngày tôi sót lại em
Cuối em sót lại trong đêm ánh đèn
Giấc mơ mở lối cái nhìn
Ta khép mắt thấu thị miền không ta.
(Đêm)
Thạch Quỳ còn ráo hoảnh tự bào chữa đổ riệt cho tất cả chỉ là do "Muốn thoát khỏi tình yêu - Thoát tình yêu chẳng dễ" (Không đề) để trốn tránh trách nhiệm.
Là nhà thơ phải đãi quặng tìm vàng Thạch Quỳ viết về cái lao tâm khổ tứ của mình khi hóa thân "Viết viết rồi lại viết - Vắt kiệt cả máu mình - Tình yêu đặt lên giấy - Tâm hồn thì trống trênh" (Nhà thơ). Lao động nghệ thuật của nhà thơ là thế đấy gian nan như kẻ vượt cạn như người đàn bà đẻ mà không có con trong bụng để rặn "Tôi gọi hồn về trong những câu thơ - Giam ngục tối con chữ - Hồn ơi hồn hãy ở tù - Để xác tôi yên giấc ngủ". Trong trạng thái cô độc âm thầm trọn vẹn theo nhau như cái bóng cùng mái đầu bạc chắn ngang cuộc đời chỉ có điều là "Thân thể không tan thành khói được" (Bài ca thuốc lá) trái tim nhạy cảm Thạch Quỳ "Đều đặn đập bảy mươi lần một phút - Xâu thời gian thành chuỗi hóa đời anh" (Trái tim). Tim nhà thơ mềm nhưng rắn nó chẳng bao giờ lãng quên nhân thế trong ngực lớn bồi hồi của anh "Trái tim nói những điều hệ trọng - Cả những điều ta tưởng rất vu vơ" (Trái tim). Khi bóng chiều chạng vạng phủ lên tuổi tác Thạch Quỳ tổng kết nửa phần đời của mình:
Nửa ngửng đầu ngóng tìm cái Đẹp
Nửa cúi đầu xoay tìm cái ăn
Nửa lụy yêu ma nửa lụy thánh thần
Còn một mái tóc đốm bạc
(Nửa phần đời)
Người ta kháo nhau ở đâu đó rằng Thạch Quỳ sống ngông thơ ngông (!?) lãnh đạo không ưa và những người sống an phận dễ ngán? Tại sao lại không ngông được khi trần trụi giữa đời mọi giá trị đều bị đảo ngược. Một Tú Xương mới tất yếu phải được mọc ra là lẽ đương nhiên có gì phải phàn nàn cay cú. Chính Thạch Quỳ đã tự thú để bảo vệ mình "Có gì như có lỗi - Mà có lỗi gì đâu" (Cò). Giữa một xã hội "Người mang hình đá - Đá mang hình người" (Tảng đá hình người) anh kinh hồn nhận ra cái gì cũng lai từ con gà hạt gạo đến cả "Thơ phú thị truờng dần lai kinh tế - Nửa hồn ta lai nửa hồn mình". Sống trong một thế giới rối ren bị xáo trộn "Cái mất đi hú gọi không về - Cái còn lại trơ mòn sỏi đá" Thạch Quỳ đau cái đau của người mất sạch gia tài văn hóa. Sự nghiệp Thạch Quỳ bò như rùa còn cái nghèo thì luôn bá vai bá cổ nhà thơ. Xưa nay "nghệ nhân nan phú" (nghệ sĩ khó mà giàu). Chìm nổi là vận hạn của tài tử. Anh hoa phát tiết thường là tai vạ mà miệng là cửa ra của họa phúc. Nhiều người thương thành phúc lắm kẻ ghét thành họa. Không một hạnh phúc nào là không chứa tai ương không vinh quang nào lên đến tột đỉnh mà lại không bị tai ách quật nhào. Người mạnh thăng hoa trong bất hạnh kẻ yếu lụi tàn trong vận may. Thành thử thơ Thạch Quỳ chứa biểu tượng không phải hai mà nhiều mặt là một tất yếu của nghệ thuật. Cái ưu thế này bỗng chốc trở thành cái thất thế của Thạch Quỳ lỗi đâu phải ở nhà thơ mà lỗi tại người nhận thông tin có tên là Đố-Ky-Ấu-Trĩ. Bởi thế cái án "Ngục văn tự" vẫn còn là chuyện kể dài dài đeo đẳng hành tội các kẻ sĩ chân chính tồn tại hàng nghìn năm tới nay. "Là người nuôi ảo mộng giữa chiêm bao" Thạch Quỳ chán nản quả quyết khẳng định "Cuộc đời tôi thật nhất vẫn là mơ...". Anh nói vậy mà đâu phải vậy! Từ khởi thủy con người hình thành cách sống bài học vỡ lòng đầu tiên là tính lạc quan. Cái lôi cuốn nhất trong đam mê cá nhân là hy vọng. Nó vực ta dậy nuôi dưỡng xuýt xoa cùng ta những cay đắng mùi đời. Hy vọng thường chen lấn nằm ngay cả trong tuyệt vọng. Phẩm tiết của người có tâm hồn lớn là luôn hy vọng đẩy lùi sự tuyệt vọng. Thật là bất hạnh và khốn khổ cho ai đó chẳng biết ngày mai mình phải làm gì. Với họ hy vọng là giấc kê vàng của kẻ điên rồ khi thức giấc. Ở đâu có cuộc sống ở đó có hy vọng. Chớ ảo vọng vào ai đó đừng vọng tưởng vào một cái gì quá sức. Kỳ vọng thái quá chỉ tạo ra sự gạt gẫm mình bắt ta phải trả giá. Trên trường đời nếu chẳng may sa chân rơi xuống vực thẳm thì tuyệt vọng sẽ nhân đôi lên sức mạnh của chúng ta nếu biết cách chế ngự nó. Tuyệt vọng là bà đỡ của kẻ cố cùng. Và rồi hy vọng sẽ làm cho vết thương thành da hy vọng xua đuổi mọi sự khốn quẫn. Còn sống còn hy vọng. Có hy vọng có tất cả. Biết nhìn thẳng vào tương lai thì sẽ không bị hối hận bởi quá khứ. Nhà thơ hãy kỳ vọng ở chính mình!
Thạch Quỳ vẫn hy vọng trong đợi chờ "Nửa phần đời chong mắt đèn xó tối - Nửa phần đời khép mắt ngóng ngày lên" (Nửa phần đời). Giằng co giữa cơm áo và thơ thi nhân vẫn chưa mất niềm tin ở quy luật sống:
Nghìn năm biết có còn không
Hoa trên đá phấn trên thông ghẹo người...
Tháng năm lần lữa đắp bồi
Lặng im để cỏ nói lời nghìn năm.
(Lời nghìn năm)
Thạch Quỳ rất thích ngao du với văn nhân tài tử và trong lúc chơi anh đã rút ra được phần cốt tủy trong văn nghiệp và tính cách của họ. Với tiền nhân Thạch Quỳ mộ đạo Nguyễn Du "Cụ đi tìm chân kinh - ở thứ kinh không chữ" (Viết bên mộ Nguyễn Du). Với bạn văn cùng thời anh ưa chất lãng tử chịu chơi ở Nguyễn Trọng Tạo "Tản mạn một thời - Một thời tản mạn - Dấu giày cát bụi - Lấm đầy thủy tinh" (Tặng Nguyễn Trọng Tạo). Anh khâm phục sự cần mẫn miệt mài viết viết và viết ở Ông Văn Tùng "Dù ảo thuật với văn chương kiêng kỵ - Thì nhà văn vẫn là kẻ xuyên tường" (Nhà văn và bốn bức tường). Với Nguyễn Duy anh yêu cái mộc mạc đến là dân dã ở nhà thơ này "Giả say thơ phú ậm ừ - Thật say ngã cái đứ đừ bờ ao" (Rượu làng vang). Với Võ Văn Trực anh nghĩ tiếp đào sâu tới cái kiếp người với nghiệp chữ của tác giả Nghĩa địa làng nổi tiếng "Mai ta thành bụi - Biết tên là gì - Đám tro chữ nghĩa - đen trời âm ty - Mai thơ thành bụi - Biết tên là gì - Đám tro chữ nghĩa - Mang hồn đam mê" (Bụi)... Đùa cùng bạn bè bao giờ Thách Quỳ cũng cất giọng ba lơn cười hóm dễ nghe nhưng với người đã khuất như nữ sĩ tài hoa Xuân Quỳnh giọng thơ của anh lại chùng xuống ngậm ngùi thành kính trước người đồng thanh tương ứng "Bây giờ gió rối trong màu cỏ - Tôi rối tóc mình trước bạn tôi" "Cỏ xanh tròn nấm mộ - Yên lặng bóng chiều rơi" (Nghĩa trang chiều).
Thạch Quỳ thực sự là nhà thơ thứ thiệt của làng quê. Sau Nguyễn Bính Đoàn Văn Cừ Anh Thơ Bàng Bá Lân cùng Ngô Văn Phú với Trần Đăng Khoa. Thạch Quỳ đang góp phần hoàn chỉnh bức tranh quê ở phương diện tả trực tiếp công việc nông tang nặng nhọc cày cấy gieo trỉa gặt hái giữa mù mịt thiên tai hạn hán lụt lội bão tố hoành hành khắc nghiệt... Đây là đất quê hương Đô Lương của nhà thơ "Đào đất lên nơi nào cũng đỏ - Đập đá ra có ánh lửa ngời"; nơi đó "Hạt cát biết mọc cánh bay - Làm mưa trên mái suốt ngày mưa khô" (Làng cát); nhưng chốn ấy có những nàng thôn nữ  xinh đẹp duyên dáng đảm đang nổi danh gái Phường Lường "xắn quần ngang gối giục trâu cày" giỏi lội bùn cấy lúa và cả "Ghẹo khách qua đường mượn câu hát dặm - Che nón cười gương mặt đỏ như say"; nơi đó có những sản vật quý "Vải mật Thanh Lưu chín mọng đầu cành" có những địa danh Khả Lưu thời Lê Lợi dàn quân huyết chiến cùng giặc Trương Phụ có danh thắng "Vực Cóc đây thăm thẳm một hang trời - Bè nứa chui vào ngỡ đi về xứ khác - Nhớ lúa Ba Ra mỉm miệng cười - Trắng xóa muôn nghìn thác bạc" (Đất Đô Lương). Là thầy giáo dạy toán học Thạch Quỳ tả tiếng chim tuyệt đối chính xác anh lắng nghe bằng cả tâm hồn: "Tiếng dú dị trầm đều như đất thở" "Tiếng gà gáy cong như vòi hái" "Tiếng vàng anh tròn như đồng tiền - Gieo tít tận trời cao gieo xuống" khi lại là "Tiếng vàng anh vàng lựng trái xoan..." "Con cú rúc sôi tròn như thắng mật" "Nghe cu đất hót tròn vo hạt đỗ" "Chiền chiện hót thơm lừng mao lúa" "Chèo bẻo hót xanh trời trên ngọn mít"... khi quan sát anh huy động tất cả các giác quan "Tiếng chim chiền chiện không tan vào im lặng" "Tiếng chim len trong lá hé mắt nhìn..." "Con mách khách nhảy cành cam qua cành khế" "Tiếng con chim kẹt võng nhớ lời bà" "Con chim hét kêu đêm mẹ ra đóng cửa - Con quạ kêu ngày bà lo đàn gà toi - Tiếng chào mào ríu rít những trưa vui". "Lúa chín sẫm trên lưng con cu vày hót xù lông cổ - Nắng lên rồi tu hú gọi bâng khuâng" "Buổi cày trưa bìm bịp gọi trong lùm" "Tiếng khướu đất hót từ cái mỏ khum khum" "Con sáo hót làm đầu ta ngoái lại" "Bọn giết người không thể hiểu tiếng chim đâu - Ta lấy tiếng chim làm mật lệnh"... Những lúc ấy ta thấy Thạch Quỳ có miệng ngậm và tai mở. Nghe tiếng hàng trăm loài chim hót chộn rộn mà phân biệt được rạch ròi tinh tế đến vậy để rồi hạ được một nhận xét có tầm khái quát cao "Giữa cuộc đời lẫn lộn cả buồn vui - Tiếng chim cũng tiếng lành tiếng dữ" (Tiếng chim). Phải là người gắn bó sống nhiều ở làng quê say mê máu thịt để tâm quan sát kỹ Thạch Quỳ mới viết có chiều sâu và thi vị đến thế. Cái biết quyết định cái thấy cái hay của Thạch Quỳ thuộc về vốn sống kinh nghiệm tài năng tấm lòng nhân hậu của anh. Trực giác thi ca của Thạch Quỳ thường nảy nở bên trong tiềm thức.
Tiếng chim rót làm mầm cây mở uống
Sắc màu xanh tiếng hót cũng xanh
Tiếng chim treo trên quả chín rung cành
(Tiếng chim)
Nhà thơ làm thơ gieo bằng các con chữ chung. Người thưởng lãm thơ phải lấy cái thâm tình nồng hậu của riêng mình tự tâm đắc để thấu triệt cái lẽ ở chỗ tác giả nói thầm lúc ấy ta mới mong mở được cánh cửa để nhìn vào một thế giới mới bên trong - cái mà Lục Giả thời xưa tâm niệm "Ẩn chi tắc đạo bố chi tắc vi thi" (Ẩn bên trong là đạo bày ra bên ngoài là thơ). Thơ hình thành từ những trận bão lòng. Các bài thơ hay dường như ra đời một cách ngẫu nhiên bất ngờ như tình yêu bỗng dưng xuất hiện nhắm tới một đối tượng xác định và một mục đích nhất định.
Không phải ai tu cũng đắc đạo cả. Thi sĩ là con ong. Phải biết chọn hoa để làm mật không cẩn trọng dễ thành ra mật đắng. Thạch Quỳ đã nhập cõi bằng tâm đức và số phận của mình. Thành thử đọc thơ không dễ. Thiếu một cặp mắt tinh khi đọc sẽ vùi dập nỗi khổ tâm của người viết. Tìm ra chỗ khúc mắc mới tỏ được nỗi tâm huyết của nhà thơ. Ngôn ngữ là cái bóng của hành động việc làm nó lột tính cách thi nhân. Giữa giấy trắng mực đen chữ nghĩa quyết định sự sống còn của tác giả. Rõ ràng là thực tiễn của thi ca Thạch Quỳ đã ứng với điều chăm bẵm của nhà thơ "Bản chất cái đẹp có các phẩm chất của nó. Một cách hồn nhiên nhất như không hiểu biết nghệ sĩ luôn sáng tạo để phát triển cái đã có đã nhận thức. Nghệ sĩ phải cao hơn những lời tán tụng sự hâm mộ và cả sự tán thưởng của công chúng" (Tự bạch).

*
      Lưu Hiệp trong Văn tâm điêu long cho rằng "Người làm thơ có thể giàu có ở vạn bài nhưng có khi lại nghèo ở một chữ". Thơ Thạch Quỳ có những điểm yếu nhất định về cấu tứ thi pháp ngôn ngữ. Chúng ta có thể dễ dàng nhặt ra được những hạt sạn nhỏ ngay cả trong bài thơ hay như Tiếng chim: - Từ đồng nghĩa khác âm còn thiếu nên hay lặp: "Chỉ biết tiếng bom gầm không át được - Tiếng chim nằm trong trái tim người đi."
Chữ "trái tim" đã dùng hai lần ở trên nên thay vào đây bằng từ tương đương "lồng ngực" hợp lý hơn.
- Thừa chữ: "Anh bạn Lào nhớ con chim trên váy xanh thêu chỉ của Bunmi". Câu thơ này hơi bị "Lào" hóa và thừa hai chữ "chỉ" và "của" đã thêu dĩ nhiên phải bằng chỉ trong văn cảnh không phải của Bunmi thì của ai vào đây. Thử chữa lại: "Anh bạn Lào nhớ con chim thêu trên váy xanh Bunmi" có Việt hơn không?
"Sắn đã gieo xong đỗ đã tỉa". Hạt mới gieo sắn trồng bằng hom (thân cây) thì gieo thế nào được. Tỉa là cắt bớt cành. Tiếng Nghệ nói gieo là trỉa. Câu thơ nên chỉnh lại "Sắn đã trồng xong đỗ đã trỉa".
"Tiếng chim rót và mầm cây mở uống". Giữa chữ "và" và chữ "làm" tiếng nào đạt hiệu quả nghệ thuật hơn? Chữ "và" ngăn giữa phân đôi hai phạm trù độc lập còn chữ "làm" biến nó thành cặp phạm trù hô ứng.
Tài nghệ của văn nhân theo tôi nghĩ là phải biết xóa bỏ không thương tiếc những cái cần xóa bỏ. Chỉ có như vậy anh ta mới tiến lên được. Thơ là cái đẹp tối thượng của muôn loài. Là người trinh sát của thượng đế Thạch Quỳ làm thơ là để đào thoát ra khỏi sự cô độc nhằm giải giới những ẩn ức của hồn mình. Thơ Thạch Quỳ có chỗ như trăng ngâm đáy nước có chỗ như hoa chiếu trong gương không dễ gì mà giải được. Anh cũng có những bài khó hiểu. Đọc Đêm miền rừng xem tới xem  lui đến cả tôi cũng không hiểu được tác giả muốn nói gì (!?). Chúng tôi viết thư hỏi Thạch Quỳ. Anh giải thích: "Tôi học ông Nguyễn Du nhưng học cái gì ? Học cái triết lý gốc. Ở chỗ tôi quan niệm Truyện kiều là cái phòng thí nghiệm. Thí nghiệm gì? Đổ cái chất ấy vào ống nghiệm thì nó ra cái chất gì sau các phản ứng? Ông Nguyễn Du đã đổ cái chất vào ống nghiệm? Ống nghiệm đó là gì? Xin thưa: Cái chất ông Nguyễn Du đổ vào ống nghiệm đó là tinh hoa của trời đất của tạo hóa là đặc trưng kết lại thành cô Kiều. Cô  Kiều đi qua ống nghiệm trở thành kẻ sống dở chết dở không hóa ma cũng chẳng còn cái hồn người. Tóm lại thành cái dị dạng. Ông Nguyễn Du có khát vọng lớn là mong sao cho loài người có một cơ cấu xã hội cho hợp lẽ tự nhiên đừng giết tinh hoa kết lại trong hai tiếng Con Người. Ông đã trố mắt khi thấy cô Kiều dị dạng tâm hồn ông thét lên một khát vọng lớn ở tầm nhân văn nhân bản nhân đạo vô biên trong cái tập thơ như chỉ có mỹ cảm êm đềm "Mua vui cũng được một vài trống canh" mà ta thường gọi nôm na đơn giản là cái Truyện Kiều ấy. Bài Đêm miền rừng hoàn toàn là như thế. Nó nén cái triết lý Truyện Kiều lại trong từng ấy chữ theo nhận thức của tôi. Tôi viết nó bằng những động tác vũ điệu ma quái. Mong nó không dẫn dắt bạn đọc đi lạc vào khu rừng rậm đó".
Nghe xong đọc lại bài thơ tôi lại càng tắc tị hơn gọi dây nói cho tác giả:
- "Ông nói gì tôi chẳng hiểu mô tê chi cả". Ở đầu dây ngoài Vinh Thạch Quỳ hét toáng lên: "Vậy là hiểu quá rồi. Bác đã ngộ ra!". Thế đấy bạn đọc ai hiểu Đêm miền rừng làm ơn làm phước xin giải mã giùm tôi.

*

      Thơ Thạch Quỳ trầm bổng nhiều cung bậc như một cây đàn muôn điệu luôn nhất quán ở tâm hồn không nhất quán ở giọng điệu. Nghe Tiếng chim mà làm được sáu đoản khúc tài tình như vậy sức viết quả là sung túc và trường vốn. Nhìn đống gạch vụn đổ nát do chiến tranh hủy diệt ở thành Vinh nghĩ được xa gần là rất sâu.Từ Cái đường thẳng nằm t rong hình học của Ơclit nhảy sang Lôbasépxky khô không khốc đến cái chết của Galilê mà rút ra được bài học triết lý bổ ích cho cuộc đời bộc trực được tâm tính con người như vậy là khá kỳ thú và tươi mát. Tình yêu mà lại tang tảng như Thơ viết ở Đàn Giao là rất nhộn. Những đề tài mòn nhẵn về làng cát cỏ cây thông An Dương Vương - Mỵ Châu... mà nghĩ được riêng và đẩy được tới chốn vĩnh cửu như rứa là rất giỏi thơ... Phải chăng đấy là bằng chứng của sự đa dạng ở một phong cách đã định hình? Bạn đọc nên đọc toàn bộ thi phẩm Thạch Quỳ với 300 bài chứ không phải là hơn chục bài chúng tôi trích theo đây thì mới có thể kiểm chứng được nhận định này.

(Rút từ bộ THI NHÂN VIỆT NAM HIỆN ĐẠI)
THÁI DOÃN HIỂU

( Theo trannhuong.com )

More...

Những câu thơ không rõ ... giới tính - VC

By VƯƠNG CƯỜNG

 
 

Những câu thơ không rõ giới tính
VƯƠNG CƯỜNG

     
Tạo hóa cũng không hoàn hảo như ta tưởng. Ý chí và hành động thống nhất chỉ sinh ra hai loại giới tính là đàn ông và đàn bà. Vậy mà trong thế giới người nghe nói có đến mấy % giới tính không rõ nghĩa là vừa đàn ông lại vừa đàn bà. Hay khi làm việc này tạo hóa có sai số cho phép?
     
Nhà thơ nào cũng muốn tất cả các câu thơ của mình đều là thơ hết giới tính rõ ràng đàn ông là đàn ông đàn bà là đàn bà. Nhưng thực tế không phải lúc nào cũng chiều nhà thơ không có nhà thơ nào kể cả cụ Nguyễn Du cũng vẫn có những câu thơ không rõ giới tính. Đó là những câu thơ ít thơ mà nhiều văn lai giữa văn và thơ những câu thơ đồng tính.
     
Những người đồng tính không tránh khỏi đau khổ buồn chán vì mình không giống ai họ thường tìm lấy những người đồng cảnh và chỉ người đồng cảnh mới chia sẻ hết nỗi lòng được. Những câu thơ đồng tính thì khác có vị trí riêng trong bài thơ nhờ đó mà ý tứ bài thơ được xác định rõ hơn. Vì vậy mà những câu thơ đồng tính không thấy kém chị thua em. Tên lửa muốn bay lên phải có bệ phóng. Máy bay bay lên đường băng không bay. Trong tổ hợp ấy biết ai quan trọng hơn ai. Vả lại ai cũng muốn chọn phần hơn chọn hết cái hay cái đẹp thì cái chưa bằng trong tổ hợp để cho ai? Đấy bạn thấy đấy những câu thơ trung tính cao thượng thế đấy. Hóa ra không phải anh làm gì mà làm như thế nào. Hóa ra văn minh một thời đại được đo bằng dùng cái gì để sản xuất chứ không phải sản xuất ra cái gì.
     
Tôi biết bạn đang cười dài dòng lý luận làm gì câu thơ đồng tính đâu hãy chỉ ra xem nào? Vâng tôi sẽ chỉ. Nhưng bạn hãy cho tôi nói thêm một chút cho chắc chắn trước khi chỉ ra nhé. Hồi học phổ thông nhà trường yêu cầu mặc đồng phục. Ban đầu tôi chưa thích vì hai màu rõ rệt quá...trông cứ quê quê sao ấy. Nhưng mẹ tôi bảo vấn đề không tại màu cơ bản mà phối màu thế nào mà thôi. Mẹ tôi nói nếu quần màu đen đi với áo màu đỏ nhắc lại vài nét mảnh ở giày hay mũ đẹp sang trọng là khác. Đúng thật vẫn đề là pha màu làm sao tôn được nhau. Những câu thơ đồng tính đôi khi vẫn vậy đứng một mình thì không nhìn được nếu đứng vào đội ngũ có khi lại hay! Nếu câu thơ đồng tính đứng vào vị trí phù hợp thì chẳng những nó sang hơn mà chính câu thơ có giới tính rõ ràng cũng hay hơn. Nhiều khi giá trị tăng lên do hợp lực đấy!Tôi không dám nói nhiều nữa tôi  xin chỉ đây lấy ngay thơ Phạm Tiến Duật:
Xe không kính không phải vì xe không có kính
Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi
Nếu bạn không đồng ý hai câu thơ ấy là đồng tính bạn hãy chỉ tôi xem thơ nằm ở chỗ nào? Tuyệt nhiên không có lấy một hình ảnh một âm thanh một màu sắc một ẩn dụ nào...Thậm chí nó chưa đến văn mà là báo! 
Ung dung buồng lái ta ngồi
Nhìn đất nhìn trời nhìn thẳng
Nhìn thấy gió lùa vào xoa mắt đắng
Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim
Thấy sao trời và đột ngột cánh chim
Như bay như sà vào buồng lái ...vv...
     
Cũng thật thà như hai câu trên nhưng thơ cú tăng dần tăng dồn dập đúng là thơ và xe đang bay với tốc độ ngày càng cao hơn  tôi có cảm giác số tự nhiên đếm từ không trở đi.

   Hình như thơ cũng khởi động lấy đà như bất kỳ một vận động nào khác. Trước khi bay lên máy may vẫn phải rồ máy chạy dần ra đường băng.  Trước khi bay vào trời xanh chú chim nhỏ vẫn nhún đôi chân bé xíu lấy đà. Đôi khi tôi nghĩ nếu hai câu thơ đầu cứ khăng khăng không chịu làm anh đồng tính thì sao nhỉ? Thì tên lửa không có dàn máy bay không khởi động không có đường băng đôi chân chim không nhún một lát... Thơ tên lửa máy bay chim...thế mà có lúc giống nhau bạn thấy lạ không?
    
Có thể bạn chưa tin tôi nhưng do nể tôi chứ không phải vì lý giải của tôi trong phát hiện thơ đồng tính chứ gì. Tôi thấy sau cặp mắt nửa cười nửa không của bạn nói với tôi như vậy. Tôi sẽ chứng minh nhà thơ khác nhé. Hay là bạn chỉ nhà thơ nào cho khách quan? Hoàng Cầm phải không? Tôi đồng ý sẽ chỉ thơ đồng tính của nhà thơ Hoàng Cầm nhé. Hoàng Cầm là ông hoàng thơ tình có lẽ không ai không biết bài thơ Lá diêu bông. Đây nhé bạn thấy không trong bài thơ có những câu:
Chị bảo đứa nào tìm được lá diêu bông
Từ nay ta gọi là chồng
...
Hai ngày sau em tìm thấy lá
...
Mùa đông sau em tìm thấy lá
...
Chị ba con em tìm thấy lá...
     
Thơ ở đâu?Tuyệt nhiên không có hình ảnh nào gây ra một nỗi ám ảnh trực tiếp không thấy chút thi ảnh nào. Bài thơ Lá diêu bông trước hết hay về tứ tứ thơ lạ sau mới đến những câu thơ hay. Nếu không có những câu thơ đồng tính vừa trích thì ý tứ những câu thơ hay biết bám vào đâu lời kể rủ rỉ như ru ngủ ta và bất ngờ những câu thơ bay lên làm ta choàng tỉnh...
     
Nếu không có thì chất thơ lạ từ cái lá không có một chị tỉnh một em say và cả chị và em đều say làm sao đến được với người đọc? Em say chẳng cần biết đúng sai vì yêu chị mà cứ thế đi tìm thỏa mãn chị. Chị tỉnh thì biết chắc tìm đâu cho ra cái lá không có ấy. Chính chị tỉnh rồi cũng dần say những câu thơ hay nhất bay lên nói điều đó.
Chị lắc đầu trông nắng vãn bên sông
...
Chị lắc đầu trông nắng vãn bên sông
...
Chị cười xe chỉ ấm trôn kim
...vv...
     
Những câu thơ đồng tính giúp người đọc biến hóa với thời gian để khám phá bao sự lạ. Biết là không phải mà sao chị lại nhìn nắng vãn bên sông? Hình như có gì nao nao trong lòng chị lòng em? Một chút gì như tơ vương trong hồn chị hồn em làm vương vương mãi trong hồn người đọc. Chị em mê làm người đọc cũng mê theo tình yêu như có lại như không. Tình yêu là bùa mê thuốc lú đấy ai cũng uống hết. Hóa ra nhờ cả câu thơ đồng tính làm dàn câu thơ rất thơ có chỗ đậu tỏa sáng đã chạm đến hồn mọi người tạo ra sự ám ảnh không thôi. Trong anh trong tôi trong chị trong em đều có thế là được chia sẻ rồi. Thơ đấy thơ qua cầu để đến cùng ta.
     
Những câu thơ đồng tính đã tạo ra cái dàn vững chắc câu thơ - tên lửa sẽ bay cao bay xa bay mãi ám ảnh người đọc không có điểm dừng. Đôi khi tôi lại thấy những câu thơ đồng tính giống như tổ ong chứa đầy mật ngọt ở bên trong. Tổ ong ăn vẫn rất ngọt. Hay giàn hoa trên đó nở tung cánh hoa đủ sắc đủ màu. 
      Có những khi những câu thơ đồng tính đặt trước cũng có khi đặt sau có khi đồng tính nhưng mang tính nam hoặc nữ nhiều hơn tùy từng hoàn cảnh nó vẫn làm bổn phận của nó làm dàn để đặt tên lửa trước khi bay lên lấy đà trước khi vận động...
Tôi xin lấy lấy Nguyễn Bính:
Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay
Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy
Hội chèo làng Đặng đi ngang ngõ
Mẹ bảo thôn Đoài hát tôi nay
Hai câu sau là câu thơ đồng tính thôi cũng làm nền làm dàn cho hai câu trước rất thơ bay lên làm ta ngơ ngẩn cảm giác mất mát cái gì đó trong bước đi tất yếu của thời gian...
Còn nhiều câu thơ đồng tính lắm hình như nhà thơ nào cũng có...

HN 12-5-2010
VC

More...

Đôi điều mong muốn..

By VƯƠNG CƯỜNG




Đôi điều mong muốn ở một cuộc thi thơ
VƯƠNG CƯỜNG

     
Cuộc thi thơ về Hà nội đã bước vào giai đoạn nước rút.  Hai mươi tháng đã trôi qua thật đáng mừng cuộc thi đã thu hút hàng ngàn bài thơ mới sáng tác của hàng ngàn tác giả sinh sống khắp mọi miền tổ quốc và cả kiều bào trên nhiều châu lục tham gia. Từ người lần đầu cầm bút đến những nhà thơ đã thành danh từ người trẻ tuổi đến các cụ già đều hăng hái tham gia. Điều này cũng cho thấy sự hứơng tới kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội bằng nhiều màu sắc văn hóa bên cạnh sự cố gắng sáng tạo về vật chất của nhân dân ta. Cuộc thì này góp phần làm cho đại lễ ngàn năm Thăng Long - Hà Nội  thêm phần sâu sắc. Cùng với trang thơ dự thi báo Văn Nghệ còn đăng nhiều bài phân tích giới thiệu những bài thơ hay của các tác giả nổi tiếng trong lịch sử. Không chỉ cho ta thấy một cái nhìn trọn vẹn về tình yêu Thăng Long - Hà Nội  mà còn góp phần kích thích thêm sự sáng tạo của cuộc thi tình cảm không bị gián đọan như nó vốn có.
     
Dường như không có địa danh phong cảnh  nào của Hà Nội ngàn năm không được vào thơ. Người đọc vẫn ngỡ ngàng trước Ô Quan Chưởng Hồ Tây Hồ Gươm Hồ bảy Mẫu Ga Hàng cỏ cầu Thê Húc cầu Long Biên Quảng Bá Nghi Tàm Bát Tràng Cổ Ngư Sơn Tây...hay thẫn thờ trước dịu êm óng ả đặc sản Hoa Sữa Hoa Sen Hoa Loa Kèn Sâm Cầm Bia đá... Bất chợt tự hào khi gặp lại trong thơ những Văn Miếu Vạn Phúc Chương Dương Làng Vân... Kỷ niện lại hiện về trước Hàng Bạc Quan Nhân Nguyễn Siêu...Người quét rác anh bộ đội người gánh hàng rong tiếng dương cầm một làn điệu ca trù... vang lên trong tâm trí. Những làng ven đô ngoại thành hay cả những tháng ngày oai hùng đánh Mỹ trận Điện Biên Phủ trên không...mùa thu Hà Nội...Tất cả đều hiện lên lay động  nối liền lịch sử Thăng Long - Hà Nội. Có thể nói các nhà thơ đã dành tình cảm đặc biệt của mình cho thủ đô thân yêu với tất cả tấm lòng.
     
Không chỉ vậy Thăng Long - Hà Nôi còn được nhìn từ xa cuối trời tổ quốc hay ở bên kia trái đất. Thành phố được mở rộng thì thơ viết về Tăng Long - Hà Nội cũng được mở rộng. Chất lượng cuộc thi rồi ban giám khảo sẽ công bố nhưng cuộc thi này đã cho thấy có những câu thơ mang hồn phách Thang Long lấy một đoạn bất kỳ:
Nghe như lửa reo nghe như gió cháy
Thịnh suy - vận nước mờ - tỏ mệnh trời
Đầm đìa lệ rơi đầm đìa máu rơi
Trống rỗng kinh thành lấp đầy bóng giặc
Một giây nức nở độc huyền cầm vỡ
Một cơn hồng thủy trôi dạt trên tay
( Độc huyền cầm Hà Nội - Nguyễn Hữu Quý )
     
Hình như thơ viết về quá khứ Thăng Long - Hà Nội được quan tâm nhiều hơn. Thể lệ cuộc thi lại đặt trọng tâm vào chủ đề thời kỳ đổi mới điều này thật có lý. Thăng Long - Hà Nội ngàn năm khí phách khi thịnh khi suy đặc biệt những năm đối mặt với giặc giã xâm lăng tuy chưa đủ nhưng thơ cũng đã nhiều. Cuộc chiến tranh kinh tế lần đầu chúng ta đối mặt cũng đã tạo nên những chiến công nối tiếp. Người Hà Nội đã đi vào cơ chế mới cơ chế thị trường trong điều kiện toàn cầu hóa mồ hôi và máu đã đổ thấm đất này để làm nên một Hà Nội đàng hoàng và to đẹp. Người Hà Nội đã biết lấy sức mạnh từ khí phách oai hùng ngàn năm để vượt lên chiến thắng trong hiện tại và hướng mạnh về tương lại. Hà Nội đã làm được nhiều lắm nhưng cuộc sống vẫn còn nhiều cam go thách thức. Cơ chế thị trường tự nó làm xuất hiện mặt trái những khuyết tật khủng hoảng và ô nhiễm môi trường tự nhiên và văn hóa  đói nghèo và lạc hậu cuộc chiến này vẫn đeo đuổi. Bên cạnh những thành công còn có nhiều đau đớn nhưng đó là nỗi đau trưởng thành. Thơ sẽ song hành cùng Thăng Long - Hà Nội.
     
Toàn cầu hóa đã làm xuất hiện hai xu hướng kinh tế khộng biên giới và văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc. Mang theo trong mình ngàn năm tinh hoa người Hà Nội đang chuyển dần thành những con người mới  đáp ứng yêu cầu phát triển hiện nay. Thơ phản ánh bão táp của cuộc chiến này dường như còn mờ nhạt trong cuộc thi. Biết rằng hiện nay viết về thời kỳ này còn nhiều khó khăn lắm.
     
Trong những bài thơ đã in trên báo Văn Nghệ mà tôi đã đọc vẫn mong muốn nội dung mới phản ánh nhiều hơn và có sự cách tân về hình thức. Thơ mới ( 1930 - 1945 ) đã hoàn thành cuộc cách mạng thơ với những thành tựu cắm mốc quan trọng trong lịch sử văn học  nhờ phá vỡ hình thức cũ do vậy cuộc sống đã vào thơ nhiều hơn. Do phương pháp tiếp cận bị hạn chế nên thơ mới chỉ dừng lại ở đó. Nhưng hai cuộc kháng chiến chống Pháp Và chống Mỹ thì khác hẳn đời sống vào thơ ồ ạt dường như bất cứ hình ảnh nào cũng tự chảy vào thơ. Nếu so với hai cuộc kháng chiến thì cuộc sống hôm nay phong phú hơn rất nhiều lần. Nhưng văn học vẫn chưa tương xứng. Cuộc thi thơ về Hà Nội lần này cũng đang chứng minh điều đó. Tác động của cuộc sống mới vào tâm tư tình cảm nhà thơ theo nhiều chiều và thơ như là kết quả tối ưu của sự tác động đó phải đi qua chiếc cầu nhận thức. Quả thật cuộc sống hôm nay thật chẳng dễ gì nhận thức vì quá nhiều ngổn ngang hỗn độn. Theo tôi cần phải thay đổi phương pháp và cách cảm nhận cuộc sống sẽ ngăn nắp hơn nội dung hình thức thơ sẽ phong phú hơn. Quá khứ hiện tại và tương lai là liên tục. Chính cuộc sống mới đã sinh ra nhiều ngôn ngữ thơ mới hơn nếu nhà thơ nhận thức được. Ngôn ngữ mới ấy thể hiện nội dung mới bằng một hình thức có cánh tân.

Ngôn ngữ thơ nếu cứ thể hiện như truyền thống  không những không đủ chuyển tải mà còn tạo ra sự nghèo nàn nhàm chán. Cuộc thi này nếu chỉ xét về ngôn ngữ thơ tôi thấy chưa thật phong phú đặc biệt ngôn ngữ mới. Đất thành phố giờ rất đắt vì vậy mà đã xây nhà thì ai cũng biết cần phải xây nhà cao tầng mới tối ưu được. Ngôn ngữ thơ cũng giống như nhà tầng vây. Không phải thơ trẻ mới xây được ngôn ngữ nhà tầng mà chính nhà thơ lớp trước đã xây thành công. Xin lấy một trường hợp: Hoàng Cầm.
Chị lắc đầu trông nắng vãn bên sông
Hay: Chị cười xe chỉ ấm trôn kim
( Lá Diêu bông )
     
Mở rộng không gian và thời gian ép tối đa ngôn ngữ thơ vào thơ. Thơ nay cốt nhạc chứ không chỉ vần. Thơ không cần câu nệ thể loại. Thể loại vốn ra đời sau thơ và biểu hiện của nhận thức thơ thôi. Nhiều khi thể loại đã biến thành cái lồng nhốt thơ. Thơ không chỉ có chừng ấy thể loại mà con người đã biết. Trong dòng chảy thời gian tùy theo điều kiện lịch sử cụ thể mà thể loại cũng thay đổi. Có như vậy mới đủ khả năng chuyên chở các chi tiết thơ mà đời sống cô đặc lại. Hình thức thơ trong cuộc thi này chủ yếu là cũ nhạc điệu vần cũ vì vậy mà tôi vẫn thấy cuộc sống mới hôm nay vào có hạn trong thơ. Do đó chưa phản ánh tốt nhất tình cảm con người khi Thăng Long - Hà Nội đã bước vào 1000 năm tuổi. Tất nhiên thơ không phải là cuộc sống nguyên nghĩa mà là cuộc sống đã nhận thức sau khi đã tác động vào tâm tư tình cảm người viết. Độ sâu sắc của thơ có phần phụ thuộc vào văn hóa người thơ. Người viết có trách nhiệm đại diện cho mọi người nói hộ mọi người về tình cảm của họ với thủ đô yêu dấu. Khi ấy thơ không chỉ phản ánh hiện tại mà còn mơ ước về tương lai không ảo tưởng.
     
Tôi vẫn thấy mong muốn nhiều hơn về sự đột phá trong thơ dự thi về Hà Nội. Cuộc thi chưa kết thúc và đọc những bài thơ dự thi đã cho tôi biết những mong muốn ấy là có cơ sở...

HN ngày 11 - 5 - 2010
VC

More...

Một kỷ niệm nhỏ đêm sinh nhật nhà thơ Hoàng Cầm - VC

By VƯƠNG CƯỜNG


 

Một kỷ niệm nhỏ đêm dự sinh nhật Hoàng Cầm
VƯƠNG CƯỜNG

     
Là công dân sống ở HN rất gần với những nhà thơ lừng danh nhưng tôi không dám đến thăm họ. Nhà thơ nhạc sỹ Văn Cao kể ra là có điều kiện nhất vì tôi với Nghiêm Bằng con trai ông học với nhau tôi đến với con ông chắc là được diện kiến ông. Ngay cả khi tôi viết bài giới thiệu thơ Nghiêm Bằng chính ông đặt bút sửa lại một câu Nghiêm Bằng nói với tôi ông cụ muốn thế. Tôi bảo ông cụ đã nói thì chúng ta chỉ biết vâng lời thôi tôi cũng chưa dám đến lần nào. Khi nhà thơ Xuân Diệu mất ngày đưa tang tôi bỏ việc đến 51 Trần Hưng Đạo để chứng kiến lễ truy điệu ông. Tôi nghe những tiếng khóc và cả những tiếng gào của nhiều người vốn là những nhà thơ nhà văn nổi tiếng trong đó có Chế Lan Viên làm mắt mình cũng đỏ hoe... Đôi khi ngồi với bạn trong quán rượu nào đó không phải vì thích uống rượu mà thích được ngắm các nhà thơ.
     
Duy nhất một lần tôi anh Nguyễn trọng Tạo và Văn Hải tặng hoa Hoàng Cầm Nguyễn Đình Toán có chụp ảnh này. Số là đêm 22-2 năm 2002 bỗng anh Nguyễn trọng Tạo gọi điện rủ tôi cùng Văn Hải đến Trung tâm văn hóa đông tây đường Nguyễn Chí thanh dự sinh nhật lần thứ 80 của nhà thơ Hoàng Cầm. Tôi mang theo một bó hoa đến thấy rất nhiều người vừa quen vừa lạ và rất nhiều hoa. Ông vẫn thanh thản dung dị nghe những lời chúc mừng và cả những bài thơ ông được ngâm lên qua giọng của những người phụ nữ rất yêu ông. Anh Nguyễn trọng Tạo dẫn chương trình. Không biết có phải chủ ý hay không sau những lời chúc mừng có vẻ như có văn bản của nhiều bạn ông Nguyễn Trọng Tạo giới thiệu một bạn trẻ cũng làm thơ lên phát biểu chúc mừng. Tôi thấy sắc mặt Hoàng Cầm không hề thay đổi. Đến lượt ông đáp lời   ông nói ngắn tôi nhớ câu cái cô này viết bài thơ nào cũng gửi qua hộp thư nhà tôi. Tôi giật mình và thấy một Hoàng Cầm khác thận trọng và sâu xa. Ông không như báo chí đang lăng xê cô nhà thơ này. Có lẽ ông nghĩ thơ đâu phải lăng xê và chắc ông đọc và không biết nói gì khen hay chê lúc này đều không tiện. Thơ tình ông kiêu sa lộng lẫy kín đáo thế cơ mà. Người hiểu được thơ hay chưa chắc gì viết được thơ hay nhưng nhà thơ hiểu thơ hay thì biết được thơ dở. Người con gái đẹp chỉ khi như không thấy mình đẹp vẻ đẹp như tự nhiên mà đẹp.

Hoàng Cầm luôn tự mình bứt phá êm đềm luôn cách tân không tuyên bố có tầm nhìn quá sâu xa. Nhà thơ trẻ kia chỉ biết làm tình làm tội thơ cố buộc vào thơ những điều không phải bao giờ cũng sạch sẽ buộc vào thơ những điều mà bản chất thơ hiền lành không có. Người nguyên thủy cũng biết lấy vỏ cây làm quần áo loài người đã qua biết bao nhiêu lần cách mạng tìm ra những loại vải đẹp nhất để may áo quần và ai cũng mặc áo quần. Riêng nhà thơ này thì cởi truồng cởi truồng từ khi bé đến già cho mọi người chú ý. Cởi truồng mãi hóa ra lại mất thiêng.

Thơ thời nào cũng lụa là không nghiêng ngó...

More...