Thơ viết tặng người - thơ VC

By VƯƠNG CƯỜNG

 



Thơ viết tặng người

VƯƠNG CƯỜNG

Khi bấm điện thoại không còn run lên  được mùa
trái tim ngủ đông cánh đồng đắp chiếu
dãy núi ngổn ngang trùm mây lớp lớp  
con sóng chồm lên  con tàu rách nát
em đừng gọi cho tôi

Khi ngồi cà fê thơm tha thiết xanh trời 
tim em đập rộn ràng đám rước
vừng trăng cuối trời ngẩn ngơ thiếu nữ
ríu rít cây xanh cõng gió đan chiều
em bình thản uống đi

Bài thơ đang chảy tràn bàn phím
cánh chim sải bay chót vót đỉnh trời
hoàng hôn dệt tím chở trăng về núi
bờ môi cong kẻ một cung trầm
em  viết bài thơ đi

Khi con đường hun hút cạn khô sa mạc
những người ríu rít bên em bỗng biến vào đêm
gió mưa và con đường đều thành dấu hỏi
em tiếp tục đi hay em trở lại
túp lều anh cầu vồng mở hai chiều... 

Đêm 23-9-2009
VC

More...

Thơ chọn - VC

By VƯƠNG CƯỜNG

saoxanhvn101ns3nc5ep.jpg

Thơ VƯƠNG CƯỜNG


Một mình đêm
   

Khi lặng chìm với một mình đêm
trăng trở giấc gối đầu lên phía núi
hình như có điều gì tiếc nuối
kìa bình minh ngọng nghịu bài ca   
bài ca  ấy bây giờ ta đang hát      

Với thân yêu cánh chim chiều tít tắp     
ta một mình đêm khâu áo cho ta     
kìa bông hoa rạo rực nói lời hoa       
lời hoa ấy bây giờ rơi trước mặt

Lặng chìm đêm mơ dạo khúc ngày
đêm cùng  ta pha lấy những đắm say
kìa hoa nở trên cách đồng xa cách                    
đám mây hồng vừa gọi vừa bay... 



Giật mình nghe tiếng gió


Nghe mùi hương em thoảng trong giấc mơ
anh giật mình tỉnh dậy giữa đêm khuya
căn phòng anh lặng im. Và gió
gió lồng lên muốn bế cả sân chùa  

Anh lần ngược theo chiều gió thổi
chân trời xa rặng núi cũng rất xa
trăng ngái ngủ kéo chăn mây khẽ trở
vì sao ơi anh như kẻ không nhà

Buồn cô đặc xếp hàng như tượng đá
thu đã sang ngày mới cũng dần sang
tiếng tàu vọng xé đêm và lầm lũi
xa em anh đốm lửa nhỏ  sắp tàn

Từ bữa biết mùi hương em anh nhớ gió
gió chuyển anh thông điệp của nỗi buồn
mai gió ạ nhớ chuyển dùm anh nhé
anh đứng ngồi như một chú mèo hoang...



Hoàng hôn muộn
 

 

Chim lật gió nắng không còn trai trẻ
đã hoàng hôn chuông thỉnh rụng bờ thu
dòng sông chẳng hát vờ như thuở nhỏ
êm đềm xanh ào ạt dấu mù u

Niềm vui phủ lớp sương mờ ảo mộng
nỗi đau qua  lắng núi với trưa hồng
mây áo mỏng hững hờ thắt nút   
nước mắt rơi tự nguyện có còn không?

Gió thiếu nữ lướt lê xào xạc lá
nắng đàn ông bản nhạc phảng phất lời
trưa ốp nếp cong nỗi lòng chín đợi
chiều lưu ban tím mận ngập ngừng rơi

Hoàng hôn ạ cánh chim còn nguyên vẹn
sông miên man khúc hát với lở bồi
hoàng hôn cuộn lòng thu chờ trăng gọi  
lá bàng rơi cuống quyt ngập vai đời

Hoàng hôn muộn còn hơn không đến
anh trở về nắng phượng lửng trời mây
bên bàn phím chim bay về ngược gió
hoàng hôn đi anh lại tím theo ngày...

More...

Chim họa my - Roberta Bernxa

By VƯƠNG CƯỜNG

209766713_db46c857a8-1.jpg image by chimcodo_2008

 

Chim họa mi

Roberta Bernxa

( 1759-1796 )

Tôi không biết họa my đến từ bao giờ
Mùa đông lạnh lẽo này nó trú ở đâu
Mà những ngôi nhà cửa mở
Đến nửa đêm đã chứa tiếng chim đầy

Trong tiếng hót của chim
Thế giới như xích lại gần hơn
Một tiếng hót vang lên đâu đó
Vạn âm thanh cũng theo tiếng chim về

Tiếng hót đêm nay
Sáng trong
Khúc chiết
Có sự lặng im
Thấm giữa lòng ta

Ngọn Bạch dương hãy còn khép lá
Phương nào lại trở về ngọn gió
Tiếng sáo vút lên
Ấm cả đêm đông

Bạn hãy lắng nghe
Thánh thót
Tiếng họa my
Bạn không thể nào chợp mắt
Như những lo âu
Chứa chan
Hạnh phúc

Bạn sẽ nhớ những mảnh vườn phương Bắc
Nơi bao lần bạn lạnh cóng trong đêm
Bạn sẽ nhớ cặp mắt nhìn thương mến
Khuôn mặt nào có lửa cháy trong tim

Trong khóm lá xanh non ấm áp
Dưới những cành nguyệt quế mát tươi
Trong những cánh hoa hồng duyên dáng
Là những nơi chim sống trọn đời

Ngàn vạn lần tôi yêu họa my
Cất tiếng hót xé tan bầu sương lạnh

Tôi không biết họa my đến từ bao giờ
Và mùa đông lạnh lẽo này nó trú ở đâu
Mà những ngôi nhà mở cửa
Đến nửa đêm đã chứa tiếng chim đầy

VC dịch

( Có một người bạn còn lưu giữ và gửi lại cho tôi những bài thơ tôi dịch khi còn đi học. Tôi không còn nguyên bản tiếng Nga trong tay tôi đã tìm nhiều nơi nhưng chưa thấy. Theo bạn tôi tôi gửi lên đây các bạn đọc cho vui. VC )

More...

MỸ ANH - VC

By VƯƠNG CƯỜNG

MỸ ANH
VƯƠNG CƯỜNG

Preview

      Sáng sớm ở khách sạn Cholonxay nước Lào tháng tư năm 2008 Quý  lại trở chứng đốt sống cổ đau chèn nó không quay được người cứ đuồn đuỗn như cây chuối. Cô phiên dịch phải day huyệt mà nào biết huyệt đâu.Cứ day đại đi.Có một người phụ nữ cao ráo đẹp sang trọng ngồi đầu xa thỉnh thoảng lại nhìn.Caí nhìn giống như ca sỹ nhìn thấy ánh đèn sân khấu đàn chim sẻ thấy cánh đồng lúa chín...Người ấy đi lại gần chỗ chúng tôi.
- Này em day huyệt phải thế này này...
Rồi như tức mắt chị làm luôn. Tôi nhìn thấy những ngón tay búp măng mềm mại dây huyệt thì cũng ngứa ngáy nghề thầy bói của mình:
- Này em em là bác sỹ phải không?
- Sao anh biết?
- Vì anh nhìn những ngón tay em mà liên tưởng đến cô bạn anh hồi trước học piano tại nhạc viện Hà Nội...
      Thế là từ hôm đó tôi quen Mỹ Anh. Sáng sớm chiều tối Mỹ Anh hay rủ hoặc tôi và anh bạn đi cùng rủ Mỹ Anh đi tập thể dục! Có hôm ba người đi bộ quanh khu khách san gặp mấy ông sư đi khất thực. Mỹ Anh giải thích như một tu sỹ! Có hôm tiện chân đi xa quá khách sạn đến mấy cây số.Trời tối mới dật mình rủ nhau về. Tôi đánh rơi cái kính.
- Bây giờ hai anh đi một phía em đi một phía sẽ tìm được!
- Tôi và bạn tôi trở thành người máy.Bạn biết rồi đấy đời tôi đã từng chỉ huy một công trường hàng chục kỹ sư và hàng ngàn công nhân xây dựng. Vậy mà giờ đây tôi phải nghe lời Mỹ Anh như một chú bé. Hơn 30 phút chúng tôi đi hết đường từ lâu mà chẳng thấy Mỹ Anh quay lại. Tôi cảm thấy sốt ruột và một thoáng lo lắng Dù sao Mỹ Anh vẫn là một phụ nữ...
      Giờ thì tôi mới biết những lo lắng của tôi thật quá trẻ con trước một Mỹ Anh quá tự tin. Mỹ Anh bảo tôi anh nhớ rằng một thân gái mà em đã từng leo trèo rừng sâu núi cao tôi căng võng mà ngủ. Từng là vận động viên huy chương vàng điền kinh toàn quốc. Từng là võ sỹ Karate cao cấp.
      Từ hôm đó tôi bắt đầu hiểu hơn người bạn mới của mình. Thì ra Mỹ Anh sang đây đầu tư khai thác vàng! Ba năm đi lại Mỹ Anh bảo tôi riêng tiền đi lại em cũng hết cả triệu đô rồi. Tôi nhìn Mỹ Anh như người từ hành tinh khác vừa đến. Từ đó tôi hay nghe chuyện người phụ nữ xinh xắn nhanh nhẹn tháo vát này. Càng nghe tôi càng phục. Thì ra vốn là một bác sỹ giảng dạy tại một trường y tế tại thành phố Hồ Chí Minh. Chồng là một bác sỹ có phòng khám tư. Trong nhều bệnh nhân của anh có một người phụ nữ trở thành bạn thân của cả gia đình. Bao nhiêu năm trời chị chị em em...thỉnh thoảng đi nhà hàng ăn uống đi chơi cùng nhau. Một hôm Mỹ Anh giật mình phát hiện ra chị này là bồ của chồng mình! Như sấm sét xiêu vẹo mất một thời gian. Mỹ An im lặng và quyết đứng dậy mang cả hai cậu con trai về thành phố Đà Nẵng. Ban đầu dựa vào mẹ. Mỹ Anh chuyển hướng từ đây. Vốn thông minh và rất tháo vát cô từ cầm cự đến làm giàu trong một thời gian không dài. Mỹ Anh nói với tôi:
- Nếu anh vào Đà Nẵng cứ thấy ở đâu có cửa hàng dược to cửa hàng bán rượu tây...to thì đó là của em! Đừng tái mặt như thế. Cách thành phố khoảng 60km em còn cái trang trại ngót 100ha nữa đấy. Cơn bão số 5 đã quét sạch những gì em có ước hàng tỷ đồng. Choáng! Nhưng nếu anh đến chẳng bao giờ gặp em hết. Em không bao giờ ở đó cả.
-  Thế em ở đâu? Em đang ở nước ngoài! Thái Lan hoặc Lào...hoặc đang ở một nơi nào đo. Em đang lập các dự án lớn một vài nước mà anh.
      Công việc nghiên cứu kinh tế của tôi đã cho tôi đi đến nhiều nơi trên đất nước này gặp bao nhiêu người phụ nữ tài giỏi. Nhiều lần trên lớp tôi từng nói người giỏi quản lý là người ít khi có mặt tại nơi làm! Tôi từng gặp chị Mỹ Lệ ở Bình Phước. Đến xem các phân xưởng sản xuất hạt điều xuất khẩu. Tôi nhớ như in hình dáng và lời nói của chị: Đứng trước các thầy tôi chẳng biết nói gì cả. Tôi làm sao tôi báo vậy thôi. Tôi chỉ học lớp 3 thôi mà chữ nghĩa ít có gì mong các thầy thông cảm.
      Buổi báo cáo của chị chỉ 15 phút ấn tượng mãi trong tôi. Tôi hỏi chị trên thị trường thế giới hiện nay chị có tính tới một ngày nào đó hạt điều của chị không đủ sức cạnh tranh không? Chị bảo 15 năm nữa cũng chưa phải lo. Chị cũng từng trắng tay năm 1993. Chị nói trước mặt tôi chỉ còn hai con đường một bỏ quê mà đi vì không thể nhìn mọi người và hai đứng dậy. Tôi đã đứng dậy. 3000 công nhân 3 loại áo màu khác nhau cưới xin ăn hỏi nhà ở nếu ai lập gia đình chị lo tất! Đang ngây người trước các phân xưởng sản xuất hạt điều chị dẫn chúng tôi đi xem khu du lịch sinh thái. Chị bảo phải đi ôtô. Chao ôi một trang trại 60 ha tự chị thiết kế dường đi bãi cỏ dòng suối con cò con vạc sống động đẹp không nói hết được. Ngang qua biệt thự của chị tôi hỏi chị thiết kế hay là ai. Chị bảo tôi thuê kiến trúc sư nổi tiếng SG đấy. Tôi bảo thế chẳng cần xem nữa. Vì tôi biết rồi tôi quan tâm cách làm chứ không cần xem cụ thể! Với tôi quan trọng là phương pháp đã đúng về phương pháp thì kết quả sẽ tốt.
    Kể chuyện Mỹ anh tôi lại nhớ chị Mỹ Lệ không biết có phải vì hai chị đều có tên đệm là Mỹ không? Tôi hỏi các cháu giờ thế nào Mỹ Anh bảo cả hai cháu đang học đại học tại thành phố HCM tiếp tục cho ra nước ngoài học anh ạ. Học ở trong nước cứ loay hoay nhiều việc mà thiếu kiến thức.
      Tôi đã ngồi uống cà fê với Mỹ Anh tại đường Nguyễn Du Hà Nội. Nơi một lần tôi rủ anh Nguyễn Trọng Tạo đến đó. Anh Tạo là người quán sang nào ở đâu cũng biết thế mà còn ngẩn ra khen lấy khen để. Mỹ Anh ra HN để giải quyết một số thủ tục. Khi ngồi lên tắc xi còn nhắc tôi khi vào Đà Nẵng công tác nhớ gọi cho em. Và rồi tôi vào thật. Nhưng không có thời gian khi sắp ra sân bay Mỹ Anh đánh chiếc xe ô tô mới tinh muốn đưa tôi ra sân bay. Tôi bảo cơ quan đã bố trí xe cho tôi rồi hẹn lúc khác vậy. Thế là Mỹ Anh buộc tôi vào quán Cà fê gần học viện tôi công tác. Tôi lại vội vàng ra sân bay suốt cả chuyến bay cứ nghĩ gần xa sao mình khi nào cũng vồi vội thế?
      Bây giờ tôi đánh mất điện thoại của Mỹ Anh chẳng biết làm sao liên hệ. Đầu tháng 8 vừa rồi tôi lại vào Đà Nẵng qua quán Cà fê dạo nào bỗng nhớ người bạn tình cờ gặp tôi đành trở về Hà Nội trong tiếc nuối. Nhưng tôi biết có lúc Mỹ Anh cũng vào xem blogs nếu vô tình vào đọc những dòng này tôi lại tin thế nào Mỹ Anh cũng sẽ gọi cho tôi...

More...

Giật mình nghe tiếng gió - thơ VC

By VƯƠNG CƯỜNG

 

Giật mình nghe tiếng gió

VƯƠNG CƯỜNG



Nghe mùi hương em thoảng trong giấc mơ
anh giật mình tỉnh dậy giữa đêm khuya
căn phòng anh lặng im. Và gió
gió lồng lên muốn bế cả sân chùa  

Anh lần ngược theo chiều gió thổi
chân trời xa rặng núi cũng rất xa
trăng ngái ngủ kéo chăn mây khẽ trở
vì sao ơi anh như kẻ không nhà

Buồn cô đặc xếp hàng như tượng đá
thu đã sang ngày mới cũng dần sang
tiếng tàu vọng xé đêm và lầm lũi
xa em anh đốm lửa nhỏ  sắp tàn

Từ bữa biết mùi hương em anh nhớ gió
gió chuyển anh thông điệp của nỗi buồn
mai gió ạ nhớ chuyển dùm anh nhé
anh đứng ngồi như một chú mèo hoang

HN 1g30 sáng 8-9-2009
VC

More...

Văn học nông thôn - Hãy cho tôi đôi mắt. VC

By VƯƠNG CƯỜNG


Văn học Nông thôn -  Hãy cho tôi đôi mắt!

VƯƠNG CƯỜNG

Preview
Hà nội ngày  tháng  năm 2009
      Em thân yêu đôi khi anh tưởng tượng một mai khi con đò bến nước cây đa ngọn khói lam chiều... mất đi trong hồn ta chống chếnh ra sao nhỉ? Nhưng rồi anh lại nghĩ ai cũng có một vùng nông thôn nào đó nơi cỗi nguồn tình yêu nơi có con cò bay trắng muốt suốt dọc đời mình. Chúng ta đã lớn lên trong khó nhọc cùng với những câu chuyện cổ tích của bà và những áng văn thơ tuyệt tác nuôi dưỡng tâm hồn. Trước 1945 các nhà văn Ngô Tất Tố Nguyễn Công Hoan Nam Cao...những nhân vật sống mãi với thời gian như chị Dậu anh Pha Chí Phèo Thị Nở...Sau 1945 đặc biệt trước sau 1986 các nhà văn Nguyễn Minh Châu Lê Lựu Nguyễn Khắc Trường Nguyễn Ngọc Tư...những nhân vật lão Khúng Giang Văn Sài...đôi khi cũng len vào trong sinh hoạt của nhiều người. Em thấy đấy những nhà văn nổi tiếng những nhân vật văn học nổi tiếng đều có quê cùng ta đấy nông thôn nông dân...Em hỏi sao anh lại bảo Văn học nông thôn - Hãy cho tôi đôi mắt chứ gì? Anh chỉ nói theo nhà thơ Raxun Gamzatop thôi. Ông nói đừng nói cho tôi đề tài mà hãy nói cho tôi đôi mắt! Đề tài nông thôn không thiếu nhưng muốn viết được lại cần đôi mắt!
     
Văn học viết về nông thôn có nhiều tác phẩm hay nhưng đôi khi anh vẫn muốn đòi hỏi thêm một chút! Khi nông nghiệp nông dân nông thôn trong cơn bão kinh tế thị trường toàn cầu hoá mặt trái của sự phát triển đổ bộ ngày càng nhiều hơn và cũng là khi các tác phẩm viết về nó dường như thưa thớt. Văn học cũng như khoa học hay tôn giáo đạo đức tình yêu... đều phạm trù phản ánh thuộc ý thức xã hội. Quyết định quỹ đạo vận động tận cùng là các quan hệ kinh tế. Tưởng chừng rất hỗn đôn nhưng lại có quy luật. Khát vọng và hành động của con người thực hiện khát vọng đó trên cơ sở điều kiện vật chất và tinh thần quy định tạo nên quỹ đạo mà văn học cần hướng tới. Hay nói cách khác nó chính là lịch sử.
     
Khi so sánh quỹ đạo từ thực tiễn và văn học anh lại thấy nhiều khi có độ vênh thiếu sự phù hợp nhất định. Thường khi mô tả hiện thực văn học nông thôn rất phong phú bức tranh do văn học nông thôn phản ánh khá giống như nguyện vọng hành động của người nông dân. Nhưng đến phần cuối của cuốn sách nơi người đọc cần thấy những dự cảm về tương lai thì nhà văn thường chưa làm ta thoả mãn.  
     
Như trên anh đã nói mặc dù trực cảm nhà văn lớn hơn người thường nhưng không phải bao giờ trực cảm đó cũng đủ để dự cảm đúng. Ngày nay những ngành khoa học khác như lịch sử triết học kinh tế... chẳng hạn đã cho phép chúng ta mường tượng về tương lai có cơ sở hơn có quy luật hơn. Theo anh nhà văn nếu không kết hợp với quy luật lịch sử triết học kinh tế... đã chỉ ra chỉ dựa vào trực cảm thôi thì rất khó dự báo được tương lại mà ngay cả tương lai gần cũng không dễ có được.
     
Em biết đấy tác phẩm văn học viết về nông thôn như Thời xa vắng hay Mảnh đất lắm người nhiều ma rất nổi tiếng. Nếu chọn một số đoạn viết về nông thôn hay anh đồng ý với nhà thơ Trần Đăng Khoa. Nhưng anh lại tiếc và thất vọng phần nào về Thời xa vắng khi Giang Văn Sài  " thất bại "ở thành phố trở về nông thôn. Vòng luẩn quẩn của người viết bắt đầu từ đây. Một sự chuyển dịch ngược tác giả để nhân vật của mình về quê làm VAC và chủ nhiệm HTX. Tác phẩm này viết năm 1984. Để nhìn thấy cái không phù hợp với bước đi lịch sử giai đoạn này em cùng anh trở lại thực tiễn thời ấy nhé. Sau 1975 đất nước rơi dần vào cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội. Chiến tranh đã kết thúc nhiệm vụ xây dựng và phát triển kinh tế đặt lên hàng đầu. Nhưng cơ chế quản lý quan liêu bao cấp vẫn ngự trị cản trở việc thực hiện nhiệm vụ ấy. HTX nông nghiệp không cứu được người nông dân rơi đến tận cùng của ngõ cụt. Đời sống vô cùng khó khăn mỗi tháng bình quân lương thực chỉ còn 11 4kg. Từ trong ngõ cụt ấy nông dân đã tìm cách để sống khoán chui ra đời. Ai ngờ nó đã mở đầu quá trình manh nha đổi mới tư duy sau này. Năm 1981 khoán chui đã được nhà nước thừa nhận  HTX đã mất dần giá trị. Một chân trời mới đang hé lộ nông dân sẽ bước trên con đường khác mà đến năm 1988 thì được khẳng định trong nghị quyết khoán 10. Em thấy đấy năm 1984 nguyện vọng của nông dân không phải là HTX mà là một nền sản xuất hang hoá. Nếu đem so sánh thực tiễn này với phần kết thúc của Thời xa vắng anh thấy ngược nhau. Cần một đôi mắt là thế có đôi mắt ấy hai quỹ đạo thực tiễn và văn học phản ánh sẽ trùng nhau. Nhà văn có thể dự báo được tương lai gần. Phản ánh thực tiễn trong tác phẩm cần nhà văn bên cạnh những trực cảm phi thường còn phải biết quy luật vận động của xã hội.
    
Gần 10 năm sau 1993  mảnh đất lắm người nhiều ma ra đời gây tiếng vang trên văn đàn. Nhưng anh lại thấy một lần nữa giữa thực tiến đời sống và thực tiễn được phản ánh trong tác phẩm văn học viết về nông thôn lại cách nhau quá xa! Khi tác phẩm này ra đời kinh tế hang hoá kinh tế thị trường đã đổ bộ vào thực tiễn VN
trước sự đón đợi. Nhưng cơ chế này lại có tính hai mặt. Đội quân thiện nghệ của kinh tế thị trường lần đầu đặt chân vào VN đã thể hiện sự mạnh mẽ của nó đấy toàn bộ nền kinh tế -  xã hội vào chân tường. Thời điểm 1989 lạm phát phi mã 700%. Sức mạnh của kinh tế hang hoá kinh tế thị trường đến mức theo Mác giải phóng sự ngự trị của chế độ phong kiến trong chớp mắt! Cơ chế đó lấy giá trị làm trung tâm lợi nhuận và lợi ích kinh tế là đích. Nền kinh tế phát triển có động lực. Ấy vậy mà tác giả Mảnh đất lắm người nhiều ma vẫn say sưa mô tả mâu thuẩn các dòng họ ở nông thôn như là cản trở lớn nhất trên con đường phát triển!
     
Giờ đã mấy chục năm thực tiễn đã kiểm nghiệm HTX đã phải chuyển sang làm dịch vụ và đã phải nhường chỗ cho hộ gia đình nông dân quyền tự chủ. Nông dân đã bắt đầu sản xuất hàng hoá. Khi nền sản xuất hàng hoá được thiết lập sức mạnh của nó khó ngờ. Nông thôn đang rời xa dần với văn minh truyền thống hàng vạn năm để có thể hội nhập với nên văn minh vừa được thiết lập vài chục năm văn minh tin học nhà văn cần đôi mắt hơn ai hết khi viết về nông thôn.  Mâu thuẩn của nông thôn đâu phải là mâu thuẩn dòng họ. Nông thôn đang bị tác động bởi kinh tế thị trường đô thị hoá công nghiệp hoá...So với các tầng lớp trong xã hội tạm thời nông dân đang gánh chịu nhiều thiệt thòi nhất do kinh tế thị trường đòi hỏi cao mà nông dân đa số không đáp ứng được. Họ chống chọi với sóng gió kinh tế thị trường và bị hút dần theo công nghiệp hoá và đô thị hoá trên con đường đi tới tương lai. Nông thôn hiện nay đang làm cho ta nhớ tới sự trống rỗng nhân lực. Những người trẻ tuổi có sức lao động chủ yếu đi về các thành phố lớn tìm việc làm. Những trí thức ra đi từ nông thôn đã chuẩn bị chỗ làm ở các thành phố. Những mâu thuẩn mà cuốn sách trên đề cập trở nên nhỏ bé mong manh trước cuộc mưu sinh của nông dân nông thôn. Vậy là muốn phát hiện mâu thuẫn trong nông thôn phải nhìn bằng cặp mắt khác!  
     
Nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy mâu thuẫn chính của nông thôn nông dân là sự chưa phù hợp của lực lượng sản xuất với đòi hỏi của kinh tế thị trường trên con đường tiến đến ấm no giàu có. Hàng loạt vấn đề chưa có lời giải hiện nay ở nông nghiệp nông thôn nông dân. Những cuộc chuyển dịch chưa từng có đang diễn ra kể cả chuyển dịch không gian. Các quan niệm truyền thống đang thay đổi từng ngày cho phù hợp với điều kiện mới. Trong các ngành kinh tế thì kinh tế nông thôn phụ thuộc vào thiên nhiên đầu tư lớn nhưng hiệu quả thấp nhất. Các nước ở giai đoạn đầu đều tập trung phát triển công nghiệp nhất là công nghiệp mũi nhọn vì nó dự báo cho nhiều lợi nhuận. Dường như có quy luật phải chấp nhận bước đầu sự phát triển không đều. Những nơi thuận lợi phát triển trước. Hàn Quốc đã từng tạm quên nông nghiệp trong khoảng mười năm để dốc toàn bộ sức mạnh vào chiếm lính thị trường và phát triển công nghiệp mũi nhọn.
     
Trong điều kiện đó VN cúng hướng vào phát triển công nghiệp mũi nhọn các khu công nghiệp mọc lên. Phát triển công nghiệp không thể không lấy đất từ nông nghiệp. Mặc dù được đền bù nhưng nông dân do nhiều nguyên nhân khác nhau có nơi rơi vào tình trạng mất đất sản xuất và không chuyển đổi được nghề nghiệp. Cuộc cạnh tranh kinh tế ngày càng khốc liệt trong toàn cầu hoá. Hàng hoá sản xuất ra phải đối mặt với hang giả rẻ. K.Mác từng rút ra giá rẻ là những cỗ trọng pháo bắn thủng bất kỳ bức trường thành nào. Hơn 90% người nghèo sống ở nông thôn. Trước sự phát triển hiện nay nhiều nơi văn hoá dân tộc mất dần bảo vệ văn hoá dân tộc thật chẳng dễ dàng gì trong khi văn hoá dân tộc ngày càng quan trọng với sự phát triển.
     
Trong điều kiện thực tế như thế văn học nông thôn sẽ phản ánh như thế nào là cả một vấn đề lớn. Nhân vật nông dân sẽ biến thiên lao đao chìm nổi đau đớn như thế nào trước thách thức thời đại trên con đường đi đến ấm no hạnh phúc? Muốn viết được về nông thôn hiện nay anh vẫn thấy cần một đôi mắt như Raxun Gamzatop đã nói. Anh tạm thời dừng lại nhé!

VC

More...

Vài hình ảnh Tây Nguyên - VC

By VƯƠNG CƯỜNG

Gùi thóc về nhà

Cây Konia quen thuộc trong thơ Ngọc Anh và bài hát của Phan Huỳnh Điểu


Tiêu

Chơi bi


Từ rẫy về

Vườn tiêu đang ra quả





More...

Chuyện quanh bàn nhậu - VC

By VƯƠNG CƯỜNG


 

Chuyện quanh bàn nhậu
VƯƠNG CƯỜNG


      Tôi có cái yếu kém kinh niên là đi không nhớ đường. Ở Hà Nội hay thành phố nào đó thì thôi rồi Lượm ơi! Hơn 30 năm ở giữa thủ đô biết bao nhiêu lần khốn khổ vì cái yếu kém kinh niên ấy. Trưa qua cũng vậy Hà Linh mời nhậu số 4 Thuỵ Khuê tôi đi cả tiếng đồng hồ vẫn loay hoay chẳng biết chỗ nào mà lần. Rốt cuộc Hà Linh phải bỏ giữa chừng cuộc nhậu đón tôi.
     
Thì ra một nhà hàng như nổi trên Hồ Tây. Bữa tiệc như mới bắt đầu như sắp kết thúc. Đã thấy anh Văn Như Cương nổi bật với bộ râu như cước khuôn mặt hồng hào. Phạm Xuân Nguyên đầu bạc trắng. Và mấy người trẻ tôi chẳng biết ai. Tôi đưa tay bắt mấy anh bạn trẻ chỉ biết cùng bàn nhậu. Tuyết Nga đánh mắt thập thò ngón tay bảo tôi bắt tay thầy Cương trước. Tôi nói mắt nhìn thầy Cương bắt tay các bạn trẻ trước thầy Cương càng đồng ý thầy đâu cũ như thế phải không thầy? Tuyết Nga đâu biết thầy Cương với tôi không còn xa lạ gì. Thời Linh Nghiệm tôi vừa nghe một nhà văn phân tích suốt buổi chiều buộc tội Linh nghiệm ( nghe có khi buồn cười )  về đến nhà thấy trước cửa có mảnh giấy Trần Huy Quang viết nếu về đến ngay Hồ Xuân Hương uống rượu nhé.Tôi đến thấy thầy Cương và anh Thạch Quỳ Trần Huy Quang Võ Văn Trực đang uống rượu. Nói thêm Trần Huy Quang không biết tôi có lẽ anh tôi không có bút nên nhờ Trần Huy Quang viết lời nhắn. Người ta biết tôi là em trai Thạch Quỳ chứ chẳng ai biết tên trừ anh Phạm Tiến Duật. Do không ai biết tôi khi nào tôi cũng đóng vai người chầu nghe  nên tôi lại rất dễ biết họ!
     
Ngồi bên Phạm Xuân Nguyên thì quen mặt nhưng tôi chưa bao giờ ngồi chầu ở đâu có Nguyên hết. Hôm nay thì ngồi ngay bên cạnh. Ngồi xuống là rượu rượu Hà Linh bao giờ cũng ngon ngoại thứ thiệt. Ngồi với văn nhân thi sỹ thì cứ nói nhiều hơn ăn! Chuyện đủ thứ từ Apgastan nổ bom đến Trung Quốc bắt ngư dân từ câu nói hớ của Obama đến xe đổ đèo mất lái. Tôi bảo Nguyên viện văn có một Phạm Xuân...Nguyên kể một lần đi hội thảo ở Pháp trong một đêm đọc cho H nghe thơ bút tre. Cao hứng anh ta ứng tác luôn viện văn có một Phạm Xuân / Nguyên là cán bộ cử nhân phê bình! Tôi bảo hay nhất là chữ cử nhân. Không làm tiến sỹ thì cử nhân thôi. Nhưng cử nhân đình đám tiến sỹ chẳng ai biết mà làm gì! Thời nay là thời bằng cấp. Nếu kiến thức sâu xa rộng lớn thì hình thức tiến sỹ là phù hợp chứ nhỉ. Nhưng là thời mà nội dung ít khi gắn với hình thức nhiều khi buồn cười thế thôi. Có hai ông tự dưng được công chúng nâng hàm đó là ông Văn Như Cương và ông Hoàng Ngọc Hiến cả hai ông đều có hàm PGS nhưng bị gọi là giáo sư mặc dù họ đã lên tiếng. Sự tín nhiệm ấy nghĩ cũng đáng trân trọng. Các cuộc đấu thầu nghiên cứu nếu làm nghiêm túc thì PGS hay GS hay TS cứ rơi như lá mùa thu! Nội dung và hình thưc là hai trong một. Chẳng biết thế nào lại quay sang thơ. Tôi bảo thơ tự nó sinh ra hình thức. Hình thức là cái có sau và ngoài ý muốn. Nội dung thơ quy định hình thức thơ.
     
Vừa lúc đó Văn Sáng người chuyên vẽ bìa sách đến. Tay mang một cái túi vừa đi vừa mở. Thì ra bìa tập Khuông gió tập thơ thứ hai của Hà Linh nhiều âm mưu đây và  cũng là nguyên nhân cuộc gặp mặt này. Văn Sáng ngồi xen giữa tôi và Phạm Xuân Nguyên. Gọi gì cũng không Văn Sáng gọi ốc! Thầy Cương gẩy con ốc và thấy có hai hạt gì mà hồng hồng ghê ghê. Tôi bảo ăn đi thầy ạ nếu ốc Hồ tây thì hàm lượng thuỷ ngân gấp 9 lần hàm lượng cho phép ăn! Cứ yên tâm ăn với một niềm tin sau này biết đâu do môi trường thay đổi con người phải biến thành con gì đó ta cũng biến được! Nguyên đọc một số câu thơ vần trắc thật hay và
bảo hình thức quan trọng chứ. Người đẹp vì lụa lúa tốt vì phân. Nghe có lý nhỉ. Tôi xem đồng hồ đến giờ về tôi chào mọi người và đứng dậy vui vẻ ra về còn lo lạc đường..
     
Chiều qua có người gọi điện cho tôi nói sao sau khi PXN nói khác anh mà anh chưa nói câu gì mà về liền. Mọi người sợ anh phật ý. Thế mới biết mình đơn giản mọi người hay chú ý. Tôi nói có gì đâu tôi về vì việc đâu phải tranh luận gì nói bâng quơ vui thôi mà tôi không bao giờ lại nghĩ như vậy. Mỗi người có cách nghĩ tôi luôn tôn trọng. Có nhà văn nói bọn tôi là dân chuyên nghiệp. Cầu thủ bóng đá nói bọn tôi là dân chuyên nghiệp. Thế mà ban kỷ luật của liên đoàn bóng đá cứ xứ lý những việc dưới tầm. Tôi biết ở VN ta chỉ có ông nông dân mới nói được tôi là chuyên nghiệp! Còn lại thì trong ai cũng có ông nông dân hết họ bị phân thân. Tôi có cách hiểu của tôi. Giữa hình thức và nội dung thơ có nhiều cách hiểu  giữa tôi với PXN hiểu xa nhau có sao đâu. Tôi hiểu từ trong ra còn nguyên hiểu từ ngoài vào. Nguyên so cái áo với con người. Tôi lại so con người với chính nước da của họ. Tôi hiểu thơ là một cơ thể sống. Ca dao viết trông mặt mà bắt hình dong / con lợn có béo thì lòng mới ngon. Trong kháng chiến chống Mỹ: Từ trong bụi rậm chui ra / nước da mai mái là ba sẵn sàng!...

HN 30-7-2009

VC

More...

Bình luận khoa học hiến pháp nước CHXHCNVN năm 1992 - Chế độ kinh tế - TS VƯƠNG CƯỜNG

By VƯƠNG CƯỜNG


CHÍNH SÁCH KINH TẾ CỦA QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI KIN H TẾ Ở NƯỚC TA
TS VƯƠNG CƯỜNG


( Tiếp theo và hết)
 

     3.Chính sách kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước.
     
Nghị quyết Đại hội VII của Đảng cộng sản Việt Nam đã khẳng định phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng XHCN vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước. Để đi đến quyết định này Đảng đã tìm tòi thể nghiệm và tổng kết thực tiễn hơn 10 năm.
     
Một trong những chủ trương quan trọng của Nghị quyết trung ương lần thứ 6(khoá IV)-Nghị quyết đánh dấu tư tưởng đổi mới-là chấp nhận ở mức độ bổ sung quan hệ hàng hoá-tiền tệ cho hệ thống kế hoạch hoá tập trung.Cùng với một số giải pháp tháo gỡ cho sản xuất nông nghiệp chủ trương này đã chấp nhận nên nhanh chóng diễn ra xu hướng phát triển các quan hệ  hang hoá-tiền tệ như một tất yếu khách quan đời sống kinh tế bắt đầu đổi mới nhờ bước đầu xác lập mối quan hệ giá trị.Suốt mấy thập kỷ trước đó do không thừa nhận có sản xuất hàng hoá trong CNXN nên quan hệ hang hoá-tiền tệ chỉ tồn tại hình thức mà mất nội dung kinh tế của nó.Trong mô hình CNXH đó người ta nhầm tưởng rằng quan hệ hàng hoá-tiền tệ và cơ chế thị trường là một phạm trù riêng có của chế độ tư hữu chỉ có CNTB mới có.Thực tế đang chỉ ra rằng trong CHXH quanh hệ hàng hóa-tiền tệ vẫn tồn tại do nhu cầu xã hội hoá các quan hệ kinh tế.
     
Tuy tư tưởng đổi mới đã xuất hiện trong Nghị Quyết Trung ương 6(khoá IV) năm 1979 nhưng phải đến đại hội VI bước ngoặt về quan điểm đổi mới được khẳng định:nước ta có thể tiến lên CNXH bỏ qua giai đoạn phát triển TBCN nhưng phải đi qua con đường phát triển kinh tế hàng hoá.XHCN thông qua con đường phát triển kinh tế hàng hoá thì đương nhiên sớm hay muộn phải đi đến kinh tế nhiều thành phần.Thực tế cho thấy yêu cầu phát triển của lực lượng sản xuất nước ta rất phong phú.Mỗi lực lượng sản xuất nhất định đòi hỏi một quan hệ sản xuất tương ứng của mình chứ không phải là một quan hệ sản xuất chung.
     
Hội nghị Trung ương lần thứ 6(khoá VI) đã khẳng định tính chất nhiều thành phần trong sản xuất hàng hóa ở nước ta.Mỗi thành phần kinh tế được quy định bởi mỗi hình thức sở hữu tư liệu sản xuất.Vì vậy đa dạng hoá các hình thức sở hữu vừa là nguyên nhân vừa là kết quả của nhiều thành phần kinh tế.Nhờ đó sự giải phóng lực lượng sản xuất do các chính sách kinh tế mang lại nên mâu thuẫn gay gắt giữa quan hệ sản xuầt và lực lượng sản xuất bước đầu được giải quyết. Đó cũng là nguyên nhân quan trọng nhất dẫn đến sự phát triển kinh tế trong quá trình đổi mới.
     
Khi chuyển sang kinh tế hàng hoá thì sự phát triển nền kinh tế quôc dân phải thông qua cơ chế thị trường.Trong đó chủ sở hữu sản xuất kinh doanh và người lao động đều coi trọng lợi ích kinh tế của mình như mục đích trực tiếp.Cũng nhờ thực hiện mục đích đó mà nền kinh tế hàng hoá vận hành theo cơ chế thị trường có động lực thúc đẩy.
     
Trên thế giới cho đến nay đã từng có nhiều loại cơ chế quản lý kinh tế tồn tại. Đó là cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hoá tập trung cơ chế thị trường tự do và cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước.Cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung và cơ chế thị trường tự do đều đã từng gây ra khủng hoảng bế tắc cho nền kinh tế. Đảng và Chình phủ ta chủ trương theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN trong đó các thành phần kinh tế cùng tồn tại phát triển và cạnh tranh với nhau và kinh tế quốc doanh phải vươn lên địa vị chủ đạo.Hiện nay kinh tế quốc doanh đóng góp hơn 60% nguồn thu ngân sách Nhà nước.Mấy năm qua tỷ trọng của kinh tế quốc doanh chiếm trong GDP tăng theo từng năm : năm 1990:34% và năm 1992 :39 9%.
     
Kinh tế thị trường có thể đưa lại tăng trưởng kinh tế nhanh nhưng nó vốn có khuyết điểm đã tác động xấu trước hết về mặt xã hội. Đó là người sản xuất theo đuổi lợi nhuận nên thường vi phạm lợi ích chung và sự phân hoá giàu nghèo trở nên gay gắt.Một số người giàu lên và ngựoc lại một bộ phận nghèo khó.
     
Nên kinh tế nước ta đang vận hành theo cơ chế thị trường và được xác định theo định hướng XHCN nhưng định hướng đó thể hiện trong thực tế còn nhiều lúng túng.Vì vậy có một số người cho rằng đã là nền kinh tế thị trường thì CNXH cũng như CNTB.Thật ra ở tất cả các nước đều có vai trò quản lý kinh tế của nhà nước.Ở tầm vĩ mô các Nhà nước tư bản đều dùng hệ thống đòn bẩy để điều tiết theo quy hoạch tổng thể của nền kinh tế đảm bảo tạo môi trường cho kinh tế thị trường phát triển.Sự khác biệt giữa CHXN và CNTB là mối quan hệ giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội phúc lợi cộng đồng bảo vệ môi sinh điều kiện lao động của công nhân gắn liền với tăng trưởng kinh tế.
     
Chính sách kinh tế nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước đang đi vào tất cả các ngành các lĩnh vực kinh tế.Nhà sản xuất hướng tới thị trường sản phẩm được thị trương kiểm nghiệm.Nhớ đó đã xoá bớt sự bất hợp lí trong sản xuất lưu thông.Thực tế mấy năm qua nhờ thực hiện chính sách kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường mà sức sản xuất được giải phóng mạnh mẽ công phá vào nên sản xuất tự cung tư cấp mở đường tiền lên sản xuất hàng hoá.Nền kinh tế nước ta mấy năm qua đã bắt đầu tăng trưởng khá.So với mục tiêu 5 năm(1991-1995) bốn năm
1991 1992 1993 1994 tổng sản phẩm trong nước (GDP) đã đạt bình quân 8 05%(mục tiêu là 5 5-6%).Giá trị tổng sản lượng công nghiệp bình quân tăng 13 2%(mục tieu 8-10%).Giá trị tổng sản lượng nông nghiệp bình quân đạt 5.4%(mục tiêu 3 7-4 3%). Kim ngạch xuất khẩu tăng trên 20% tổng mức đầu tư tăng trên 30% (1)
     
Đóng góp vào kết quả to lớn đó trước hết cần kể tới kinh tế quốc doanh.Trước đây Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều nghị quyết trong đó có nghị quyết 306 của Bộ Chính trị và tiếp theo là Nghị Quýêt 217 của Hội đồng bộ trưởng nhằm mở rộng quyền tự chủ kinh doanh cho các đơn vị quôc doanh.Nhò đó.một số đơn vị kinh tế quôc doanh đã vươn lên nắm bắt thị trường mở rộng sản xuất gắn sản xuất với thị trường cải tiến quy trình công nghệ nâng cao chất lượng sản phẩm đứng được trong cạnh tranh.Một số hàng hoá tiêu dung khai thác và bước đầu gia nhập được vào thị trương quốc tế có mức tăng trưởng cao như da giày 51 2% sành sứ thuỷ tinh 40 1% sữa 45 5% may mặc 35 7%v.v...trong năm 1993 (2)
     
Kinh tế quốc doanh cũng phát triển mạnh trong nhiều lĩnh vực bước đầu khai thác được các tiềm năng trong nhân dân.mở mang ngành nghề thu hút lao động tăng thêm thu nhâp cho người lao động.Kinh tế tư nhân kinh tế hợp tác cá thể tiểu chủ tư bản tư nhân lien doanh với nước ngoài đang khẳng định vai tò quan trọng tích  cực và lâu dài đang phát triển ộng.Một mặt các khu vực kinh tế này đang cần có môi trường pháp lý thuận lợi để tiếp tục phát triển.Mặt khác lại đòi hỏi phải tăng cưòng quản lý Nhà nước để ngăn chặn hạn chế những tiêu cực của cơ chế thị trường.
     
Nhờ có chính sách kinh tế nhiều thành phần lực lượng lao động to lớn được thu hút.Hiện nay cả nước có hơn 370 nghìn hộ sản xuất tiểu thủ công nghiệp và gần 4000 hợp tác xã về vận tải có 400 xí nghiệp  hoặc tổ hợp 16000 hợp tác xã cà 100 nghìn hộ kinh doanh vận tải 1600 hợp tác xã mua bán và hơn 1 triệu hộ kinh doanh dịch vụ thương mại (3)  Từ phát triển kinh tế nhiều thành phần mà các hình thức xã hội hoá ra đời chuyển những hình thức kinh tế tư nhân cá thể ...lên hình thức cao hơn.
     
Kinh tế nhiều thành phần phát triển đã huy động các nguồn vốn đầu tư của toàn xã hội.Kinh nghiệm các nước kinh tế phát triển cho thấy đây là nguồn vốn quan trọng nhất để phát triển kinh tế.Trong 3 năm 1991-1993 ước tính các nguồn vốn đầu tư cho toàn xã hội  đạt 6.250 triệu USD bằng 16% nhu cầu vồn để thực  hiện nhu cầu chiến lược (4) Lạm phát đã bị đẩy lùi từng bước ổn định tình hình tài chính tiền tệ tạo điều kiện môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội trong điều kiện chuyển đổi cơ chế quản lý tuy nguồn vốn bên ngoài bị cắt đứt đột ngột.
     
Bộ mặt xã hội nước ta từ thành thị đến nông thôn đang thay đổi nhanh chóng.Một không khí làm ăn nhộn nhịp khẩn trương bao trùm lên tất cả các ngành lĩnh vực kinh tế.Thắng lợi to lớn nhất của quá trình chuyển đổi kinh tế nước ta là nên kinh tế bước đầu ra khỏi khủng hoảng.Chính sách kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước đóng góp phần quan trọng vào thắng lợi đó.Trong những năm tiếp theo để nền kinh tế nước ta phát triển hơn nữa các thành phần kinh tế cần hướng tới công nghiệp hoá hiện đại hoá.Do đó cần huy động nhiều vốn cần tiết kiệm trong sản xuất tiêu dung để mở rộng sản xuất kinh doanh.

4.Chính sách kinh tế mở cửa.
     
Từ năm 1986 trở về trước nền kinh tế nước ta nhìn chung là một nền kinh tế khép kín.Kinh tế đối ngoại được quan tâm nhưng chỉ là nhập khẩu trang thiết bị kỹ thuật phục vụ cho sự phát triển kinh tế nội địa.Xuất khẩu không được quan tâm và vì thế những thế mạnh kinh tế cuả đất nước của từng vùng từng ngành không được khai thác sức mạnh kinh tế dân tộc đã không phát huy được để kết hợp với sức mạnh kinh tế quốc tế.Nền kinh tế tự cung tự cấp chẳng những không bị phá vỡ mà chừng mực nào đó được tô đậm hơn do không phát triển được kinh tế hàng hoá.Kinh tế và xã hội đất nước chậm phát triển.
     
Nền kinh tế khép kín đã để lại hậu quả nặng nề chẳng những không hoà nhập được với nền kinh tế thế giới mà còn bị bỏ xa mức tụt hậu kinh tế ngày càng tăng.Nền kinh tế không có tích luỹ đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không được cải thiện.
     
Khi các con rồng Châu Á bay lên đã buộc các nhà nghiên cứu lãnh đạo quản lý ở nhứng nước có nền kinh tế khép kín phải suy nghĩ lại.Vấn đề trước hết là phải đi theo chiến lược kinh tế hướng ngoại chấp nhận sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường thế giới trong quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá.Chỉ có như vậy mới có thể phát huy được thế mạnh của dân tộc tạo khả năng rút ngắn khoảng cách phát triển so với các nước đi trứớc.
     
Ngày nay trong điều kiện quốc tế  hoá kinh tế và các mặt đời sống nhanh chóng chúng ta cấn sớm nhìn nhận xu thế nói trên.Vấn đề quan trọng nhất là xác định rõ mục tiêu phát triển kinh tế hướng ngoại là để phát triển kinh tế trong nước giải quyết tốt hơn đời sống nhân dân xây dựng một nền kinh tế mở cả trong và ngoài nước vấn đề giữ vững độc lập tự chủ phải được rất coi trọng. Điều này cho thấy vai trò quản lý của Nhà nước cũng như kết hợp tăng trưởng kinh tế với quốc phòng an ninh vững mạnh phải được tăng cường.Thực hiện chiến lược kinh tế hướng ngoại tức là đẩy mạnh xuất khẩu trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh để chiểm lĩnh thị trường thế giới đồng thời với việc thay thế nhập khẩu bằng những sản phẩm trong nước.Với chiến lược này sản xuất trong nước được bảo hộ phát triển.
     
Trong quá trình chuyển đổi kinh tế kinh tế hướng về xuất khẩu đã được coi trọng.Với chính sách kinh tế mở Nhà nước khuyến khích tất cả mọi thành phần kinh tế hoạt động xuất nhập khẩu sản xuất hướng tới thị trường hướng tới thị trường quốc tế đã tạo ra những động lực mới tác động vào sản xuất.Nhờ đó nhiều tiềm năng thế mạnh của nền nông nghiệp nhiệt đới đang được khơi dậy.So với năm 1992 một số mặt hang xuất khẩu tăng như cà phê: 25% chè 30% hàng thuỷ sản 22%...Ngành nghế thủ công truyền thống như khảm trai thêu ren may mặc đang được khôi phục và phát triển bắt đầu có mặt trên thị trường thế giới.
     
Vấn đề nan giải trong giai đoạn phát triển ban đầu là thiếu hụt vốn đầu tư lực lượng lao động dư thừa ngày càng lớn.Vì vậy con đường hợp tác với bên ngoài là hết sức quan trọng.Nhưng điều đó đòi hỏi những điều kiện bên trong(về lãnh đạo quản lý bộ máy và cán bộ vốn...)để sử dụng nguồn vốn bên ngoài chuyển giao công nghệ đào tạo cán bộ... có hiệu quả cao.
     
Trong nhưng năm qua vận dụng chính sách kinh tế mở kim nghạch xuất khẩu và nhập khẩu đều đã tăng lên.Nếu như năm 1991 kim ngạch xuất khẩu đạt 2 08 tỷ USD thì đến năm 1993 ước tính xuất khẩu đạt 3 tỷ USD và nhập khẩu đạt 2 505 tỷ USD (5) Thị trường xuất khẩu luôn luôn được mở rộng theo quá trình đổi mới cơ chế quản lý kinh tế.
     
Trong chính sách kinh tế mở nếu như nhiều địa phương ngành kinh tế nước ta luôn hướng ra cũng là một thị trường hấp dẫn của các nước trên thế giới.Nhờ có luật đầu tư với lực lượng lao động dồi dào giá rẻ đất nước có nhiều tài nguyên nên hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài vào nước ta nhiều hơn.Trong thời gian 1988-1994 nước ta đã cấp phép hoạt động cho 1200 dự án với tổng số vốn đầu tư đăng kí vào khoảng 11tỷ USD(trong đó 1/3 số vốn đã được thực hiện). Điều đáng chú ý là tốc độ đầu tư trong những năm qua cũng tăng nhanh.Nếu như từ 1988 đến hết năm 1992 tóc độ tăng đầu tư nước ngoài hang năm là 51 6% thì năm 1993 đã tăng lên 43% so  với 1992 và năm 1994 tăng 26% so với năm 1993.Quy mô vốn đầu tư cũng tăng tương ứng.Nếu như năm 1988 đạt 366 triệu USD thì năm 1994 con số này đạt tới 3500 triệu USD( tăng gần 10 lần)(6)
     
Nước ta đã mở rộng quan hệ thương mại với trên 100 nước  và lãnh thổ thê giới.Năm 1986 kim ngạch xuất khẩu chỉ bằng 36% nhập khẩu.Nhưng trong 4 năm(1991-1994) tỷ lệ này nâng lên đạt 91% (7)
     
Ngoài ra nguồn vốn viện trợ phát triển(ODA) từ các tổ chức quốc tế vào nước ta cũng ngày một nhiều hơn.Tính riêng năm 1993 nguồn vốn này đạt 350 triệu USD.Trong đó có 139 triệu USD không hoàn lại.
     
Với một đât nước nghèo trong bước phát triển ban đầu khối lượng vốn thu hút được thong qua các dự án đầu tư rất quan trọng.Vấn đề đặt ra là sử dụng nguồn vốn đó như thế nào cho có hiều quả trứơc mắt lẫn lâu dài.Có như vậy mới khai thác được các nguồn lực trong nước giải quyết vấn đề lao động và việc làm.Nâng cao trình độ công nghệ nhăm tăng cường khả năng cạnh tranh của hàng hoá trên thị trường quốc tế.Lợi dụng nguồn vốn bên ngoài phát triển kinh tế bên trong rút ngắn khoảng cách khắc phục tụt hậu.Nhưng quan trọng nhất của một nền kinh tế lành mạnh là phải tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế làm chính và sử dụng vốn nước ngoài hợp lý có hiệu quả cao.
     
Những năm qua các dự án đầu tư nước ngoài nói chung là phù hợp với nhu cầu và cơ cầu kinh tế của đất nước ta. Đầu tư vào các ngành công nghiệp dầu khí nông-lâm-ngư nghiệp giao thong vận tải bưu điện...chiếm khoảng 7% số dự án(riêng công nghiệp chiếm 5% số vốn đăng ký).Từ năm 1988-1994 70% vốn đầu tư dành cho các nghành sản xuất vật chất 30% dành cho hoạt động dịch vụ;60% dự án dành cho đầu tư chiều sâu nhằm cải tạo nâng cấp trang thiết bị.Hình thức đầu tư kinh tế thể hiện:71% số dự án thuộc liên doanh 17%  dự án thuộc xí nghiệp 100% vốn nước ngoài 12% thuộc dự án hợp đồng hợp tác kinh doanh.Hơn 98% đối tác chính của kinh tế nước ta  với nứơc ngoài là các doanh nghiệp Nhà nước.Số dự án ở các tỉnh phía Bắc chiếm 35% và 45% vốn đâu tư.Các vùng kinh tế trọng điểm quôc gia như TP Hồ Chí Minh Hà Nội Đồng Nai Hải Phòng Quảng Ninh Bà Rịa-Vũng Tàu Đà Nẵng và Huế là nhứng nơi thu hút vong đâu tư nước ngoài chiếm 84% tổng số vốn đâu tư của cả nước (8)
     
Chính sách kinh tế mở đã mang lại kết quả kinh tế quan trọng.Một là giá trị hang hóa giá trị xuất khẩu thu ngân sách nhờ đó tăng lên.Chỉ tính riêng năm 1992 các doanh nghiệp đẩu tư nước ngoài đã tạo ra 550 triệu USD giá trị hang hoá dịch vụ.Ngân sách nhà nước thu được khoảng 200 tỷ đồng và 150 nghìn USD (9) Hai là nhờ có vốn đầu tư nước ngoài đã phát triển được các lĩnh vực sử dụng nhiều lao động như sản xuất hàng tiêu dùng chế biến thực phẩm xuất khẩu kinh doanh khách sạn và du lịch cũng như khai thác thăm dò dầu khí.Nhờ đó  đã giải quyết được 80.000 người lao động trực tiếp và khoảng 10 vạn lao động không thường xuyên qua các khâu dịch vụ.Kết quả này hết sức quan trọng trong điều kiện hiện nay không chỉ là kinh tế mà còn giải quyết các vấn đề xã hội góp phần ổn định chính trị để đẩy mạnh cải cách  kinh tế.Bởi vì cải cách kinh tế thu hút vốn đầu tư nước ngoài chỉ có thể thành công trong điều kiện chính trị ổn định.Ba là đã tiếp nhận một số thành tựu kỹ thuật công nghệ tiên tiến của thế giới tỏng một số ngành nghề kinh tế như thông tin viễn thông thăm dò khai thác dầu khí sản xuất và lắp ráp ôtô xe máy hoá chất phương tiện công nghệ sinh học tiên tiền như nuôi tôm nước lợ...trong nông nghiệp.Bốn là đã tiếp nhận một số phương pháp quản lý tiến bộ kinh nghiệm tổ chức sản xuất của một số nước tiên tiến trên thế giới...
     
Tuy nhiên trong 7 năm thực hiện luật đầu tư nước ngoài ở nước ta còn có nhiều nhược điểm hạn chế.Vì vây nó hạn chết hoạt động đầu tư nước ngoài vào nước ta.Một là thủ tục đầu tư vẫn rất rườm rà phức tạp phăi qua nhiều cửa phải có nhiều loại giấy phép mới thực hiện được.Từ đó gây phiền hà nhiều khe hở phát sinh tiêu cực.Hai là đội ngũ cán bộ tham liên doanh lien kết chưa được  chuẩn bị đào tạo đầy đủ vừa thiếu vế số lượng vừa yếu về chất lượng đặc biệt năng lực quản lý tổ chức sản xuất kinh doanh.Thiều phương tiện hoạt động như ngoại ngữ hiểu biết tập quán quốc tế quốc gia liên quan.Ba là kết cấu hạ tầng của ta còn rất yếu kém luật pháp chính sách của ta thiếu đồng bộ hoàn chỉnh còn nhiều tuỳ tiện giản đơn...
     
Nhìn tổng quát chính sách kinh tế mở trong thời gian qua tuy đạt nhiều thành tựu nhưng còn hạn chế và chậm trễ so với thực tiễn phát triển nhanh chóng.Thực tế đó còn đang đòi hỏi một bước chuyển dịch cơ cấu công nghiệp hoá và hiện đai hoá đặt các công ty xí nghiệp đúng vị trí trong thị trường đặc biệt đòi hỏi nâng cấp trình độ quản lý kinh tế vĩ mô và quản lý Nhà nước.

Ghi chú: (1) Tạp chí Phát triển kinh tế số đặc san Xuân 1995 tr.2

(2) Báo Nhân dân ngày 10-12-1993

(3) Báo nhân Dân 13-12-1993

(4)Báo Nhân Dân ngày 13-12-1993

(5)Báo Nhân Dân ngày 22-12-1993

(6)Tạp chí Kinh tế phát triển số đặc san Xuân 1995 tr.3

(7)Tc đã dẫn tr.2

(8) Kinh tế phát triển số đặc san Xuân 1995 tr2 và Báo Nhân Dân ngày 17-12-1993

(9) Báo Nhân Dân ngày 17-12-1993


Bài đã in trong sách Bình luận khoa học hiến pháp nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 Nxb KHXH 1995

More...

Bình luận khoa học hiến pháp nước CHXHCNVN năm 1992 - Chế độ kinh tế - TS VƯƠNG CƯỜNG

By VƯƠNG CƯỜNG

 

CHÍNH SÁCH KINH TẾ CỦA QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI KINH TẾ Ở NƯỚC TA


TS VƯƠNG CƯỜNG


     
Hiến pháp năm 1980 ra đời trong điều kiện kinh tế bao cấp và khủng hoảng kinh tế đang xảy ra nghiêm trọng ý tưởng đổi mới kinhh tế của Đảng đang hình thành. Hiến pháp năm 1992 ra đời trong điều kiện cơ chế quản lý kinh tế đã thay đổi. Nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần dựa theo cơ chế  thị trường có sự quản lý của nhà nước đã bước đầu đưa nền kinh tế nước ta ra dần khỏi khủng hoảng. Toàn bộ sự biến đổi kinh tế đó đã được thể hiện trong chế độ kinh tế của Hiền pháp năm 1992 với 15 điều có 8 điểm mới bổ sung và 7 điều được sửa đổi nội dung cơ bản.
     
Thực chất của bước chuyển đổi kinh tế đó là cuộc cải cách cấu trúc lại nền kinh tế bắt đầu từ sở hữu. Những chính sách kinh tế của Đảng và Nhà nước đã vạch hướng cho nền kinh tế vận động. Những kết quả to lớn do chính sách kinhh tế mang lại đã chứng minh Đảng ta ngày càng tiếp cận quy luật khách quan.
 
1.Những quyết sách quan trọng đột phá về nông nghiệp mở đầu quá trình cấu trúc lại nền kinh tế.
     
Những năm 1979-1980 kinh tế nước ta đã lâm vào tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng. Hội nghị Ban chấp hành Trung ương đảng lần thứ 6(khoáVI) đã nhận định "Thắng lợi của cách mạng nước ta thật là to lớn đồng thời những khó khăn ta đã vượt qua cũng rất to lớn. Điều đặc biệt quan trọng là người lao động thiếu hăng hái sản xuất".
     
Trước tình hình đó Đảng ta đã chủ trương chuyển dần sang cơ chế sản xuất hàng hoá với nhiều giải pháp: bước đầu thừa nhận kinh tế hộ với nhiều thành phần; cho các hộ xã viên mượn đất nhằm khăc phục tình trạng bỏ hoang; ổn định thu mua lương thực điều chỉnh giá mua nông sản; thực hiện mua theo gía thoả thuận; bãi bỏ việc phân phối định suất; hạn chế mức lập quỹ tập thể nhăm tăng thu nhập cho xã viên thừa nhận kinh tế gia đình là một bộ phận hợp thành của nền kinh tế XHCN.
     
Với chủ trương khoán đến nhóm và người lao động tháng 1-1981 hộ gia đình nông dân trồng lúa được tự chủ 3 khâu trong quá trình san xuất nông nghiệp :gieo mạ cấy trồng chăm bón và thu hoạch. HTX đảm nhiệm 5 khâu: làm đất thuỷ lợi bảo vệ thực vật giống và phân hoá học. Quyền chi phối tái sản xuất đất vẫn thuộc về Ban quản lý HTX. Tuy vậy so với thời kỳ 1976-1980 năng suất lao động đã tăng 23 8% sản lượng lương thực tăng 27% diện tích cây công nghiệp tăng 62 1% đàn bò tăng 33% đàn lợn tăng 22 1%. Bình quân lương thực đầu người năm sau cao hơn năm trứơc(1981:273kg 1985 304kg) (1)
     
Tuy nhiên Chỉ thị 100 của ban bí thư về khoán đến nhóm và người lao động vẫn còn nhiều hạn chế do cơ chế tập trung quan liêu bao cấp chưa được thao gỡ cơ chế quản lý nội bộ HTX và nhất là vai trò kinh tế hộ gia đình chưa được khẳng định. Việc kéo dài bộ máy quản lý cồng kềnh mức khoàn không ổn định đã triệt tiêu dần động lực kinh tế vừa được khơi dây. Kết quả là HTX lại đưng trước nguy cơ mới. Sản lượng lương thực năm 1987 giảm gần một triệu tấn mức nhà nước huy động cũng giảm gần 40 vạn tấn nạn đói xảy ra ở một số vùng liền 2 năm 1987-1988.(2)
     
Từ một nước nông nghiệp lạc hậu đi lên sản xuất hang hoá lớn Đảng ta đã nhận thức đùng vấn đề đời sốngcủa nhân dân không thể dựa vào bên ngoài. Hơn nữa có phát triển kinh tế nông nghiệp mới tạo cơ sở cho nền kinh tế phát triển ổn định xã hội đảm bảo nền độc lập và tự chủ. Không có sự phát triển toàn diện của nông nghiệp thì không có sự ổn định và bước tiền toàn bộ nền kinh tế. Nhận thức được vai trò to lớn đó cuả nông nghiệp Đảng và nhà nước ta đã xem xét kỹ hai vần đề cơ bản đang đặt ra để đẩy mạnh nông nghiệp phát triển. Một là:phải đảm bảo lợi ích kinh tế nông dân thì sản xuất nông nghiệp mới có động lực. Hai là: vai  trò kinh tế hộ gia đình trong sản xuất nông nghiệp cũng như mồi quan hệ giữa kinh tế hộ gia đình và HTX phải được xác lập đúng.
     
Đáp ứng yêu cầu đó và khắc phục những hạn chế của Chỉ thị 100 tháng 4 năm 1988. Bộ chính trị (khoá VI) đã ra nghị quyết 10 và sau đó Hội nghị BCH Trung ương đảng lần thứ 6(khoá VI) đã ra nghị quyết với những chủ trương đúng đắn kịp thời. Nội dung chủ yếu của các nghị quyết đó nhằm tiếp tục giải phóng sức sản xuất chuyển nền nông nghiệp còn đang tự cấp tự túc ở nhiều vùng sang sản xuầt hàng hoá nhiều thành phần. Thực hiện điều chỉnh một số bước quan trọng về sở hữu tư liệu sản xuất giao khoán ổn định lâu dài ruộng đất đến hộ gia đình nông dân hoá giá các tư liệu sản xuất khác và cơ sở vật chất kỹ thuật cuả HTX trước đây mà tập thể quản lý kém hiệu quả. Khuyền khích nông dan mua sắm công cụ sản xuất và trâu bò cày kéo. Đặc biệt đã khẳng định vai trò tự chủ cuả hộ gia đình. Thực hiện cơ chế phân phối theo lao động và xoá bỏ chế độ theo công điểm và hiện vật. Xã viên chỉ còn một nghĩa vụ nộp thúê cho Nhà nước và thực hiện các nghĩa vụ hợp đồng sản phẩm cong lại được tự do lưu thông và bán nơi nào có lợi nhất. Thực hiên chủ trương thương mại hoá vật tư. Khuyến khích sản xuất và làm giàu chính đáng. Ngoài ra còn thừa nhận sự tồn tại và khuyến khích phát triển kinh tế cá thể kinh tế tư nhân. Nhà nước bảo hộ quyền lợi chính đáng và được bình đẳng trước pháp luật.
     
Nhờ những chủ trương đó đã hình thành động lực kinh tế mới thúc đẩy phát triển sản xuất. Lợi ích kinh tế nông dân đã được coi trọng. Bước đầu giải quyết 3 mối quan hệ lợi ích: Nhà nước tập thể và người lao động. Trong đó lợi ích kinh tế nguời lao động được khuyến khích ưu tiên. Nhờ đó nông dân đã gắn bó hơn với đồng ruộng đã đầu tư công sức kỹ thuật và trí tuệ vào ruộng khoán. Cuộc điều tra XHH ở tỉnh Hải Hưng năm 1990 cho thấy 97 4% nông dân được hỏi muôn giữ nguyên hoặc được nhân thêm ruông khoán. Trong đó muốn giữ nguyên là 52 3% và muốn nhận thêm là 45 03%.(3)
     
Nếu như khoán 100 mới mang lại cái sôi nổi ban đàu của động lực kinh tế thì khoán 10 đã khẳng định được động lực. Bởi vì Đảng và Nhà nứơc đã bắt đầu giải quyết đúng đắn mối quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất về ruộng đất cũng như công cụ khác. Nông dân đã yên tâm đầu tư vốn lao động thực hiên thâm canh tăng năng suất cay trồng vật nuôi. Quá trình sản xuất của nông dân là quá trình tự chủ. Tốc độ thu nhập bình quân hàng năm cua nông dân tứ năm 1987 trở về trước là 1 18%.Hai năm 1988 1989 tôc độ đó đã tăng lên 4 5%. Hộ nông dân có thu nhập thấp (dưới 20kg gạo/tháng) nhưng năm 1976-1980 chiếm 20% đến năm 1989 đã giảm xuống 9 44%. Hộ có bình quân đầu người /tháng đạt 41kg trở lên từ 21 3% năm 1987 đã tăng lên 44 9% năm 1989. Sản lượng lương thực đã tăng lên theo từng năm(1988:19 583triệu tấn   1989:21 439 triệu tấn và 1993: 24 5 triệu tấn (4) 1994: 26 triệu tấn). Nhờ đó nước ta đã giải quyết được vấn đề ăn có dự trữ và xuất khẩu hàng năm  1 5 đến 2 triệu tấn gạo trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ 3 trên thề giới.
     
Việc sử dụng và khai thác ruông đất từ khi có nghị quyết 19 đã được nông dân coi trọng. Đất canh tác chẳng những được bảo vệ mà còn sử dụng tiết kiệm. Đất hoang hoá bãi bồi.thung đào...được sử dụng triệt để. Kết quả điều tra cho thấy trong vòng 3 năm (1988-1990) diên tích gieo trồng đã tăng 3 9%. Diện tích khai hoang đạt 257.000 ha.
     
Việc nông dân làm chủ quá trình sản xuất nông nghiệp do quyến sử dụng lâu dài ruộng đất được chuyển nhượng thừa kế cho thuê và chuỷên đổi quyền sử dụng cung với việc thừa nhận kinh tế hộ gia đình. Động lực kinh tế mang tính chất trực tiếp do lợi ích kinh tế của nông dân được thực hiên thông qua kinh tế  hàng hoá khi họ chính là chủ thể sản xuất kinh doanh. Nhò đó sức sản xuất nông nghiệp được giải phóng. Khai thác được những tiềm năng đất đai lao động và vốn của nông dân sản xuất nông nghiệp đã hướng ra thị trường. Sự ổn định và phát triển của toàn bộ nền kinh tế.
     
Cơ cấu lao động nông nghiệp vẫn chiếm tỷ lệ cao từ 70-80%. Tuy nông nghiệp đổi mơi có nhiều thành tựu song cơ cấu kinh tế nông nghiệp vẫn chuyển dịch chậm tiềm năng nông nghiệp chưa khai thác còn lớn. Nguyên nhân do yếu kém của cơ sở vật chất và kêt cấu hạ tầng cũng như thị trường nông thôn còn chưa phát triển. Giao lưu kinh kế vẫn còn ách tắc. Đặc biệt giá nông sản quá hạ làm giảm lợi ích kinh tế nông dân gay hậu quả xấu với sản xuất.
     
Để nông nghiệp tiếp tục phát triển làm cơ sở phát triển toàn bộ nền kinh tế cần phải đặt sự phát triển của nông nghiệp nông nghiệp nông thôn theo sản xuất hàng hoá hướng tới quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá. Đó là nhiệm vụ chiến lược cho nhưng năm tiếp theo. Thực hiện nguyên tăc nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần gắn sản xuất với thị trường. Mở rộng thị trường trong và ngoài nước giải quyết được thị trường tiêu thụ hàng hoá nông sản và dịch vụ đầu vào tốt thì ở đó nông nghiệp phát triển và thu nhập của nông dân đạt kết quả cao.
     
Thực tế còn cho thấy muồn phát triển sản xuất nông nghiệp còn cần gắn liền phái triển kinh tế với văn hoá xã hội. Hiện tượng học sinh nông thôn bỏ học khá phổ biến hiện nay và tình trạng phân hoá giàu nghéo cũng xảy ra mạnh mẽ. Tỷ lệ giàu nghéo trong cơ chế bao cấp chỉ1 5 đến 2 lần. Tỷ lệ đó hiện nay đã là 40 đến 100 lần.Mặc dù số hộ nghéo đói đã được giảm xuống năm 1990 có 34 4 đến năm 1992 chỉ còn 19 6%. Tuy vậy giải quyết hộ nghèo đói đang được đặt ra cấp bách cho các địa phương. Để vực hộ nghèo đói đứng dậy cần: Mội là giải quyết vốn sản xuất. Muồn vậy chính sách tín dụng nông nghiệp cho nông dân vay vốn cần phát triển mạnh mẽ để đáp ứng hơn 50% số hộ nông dân vay (ước khoảng 5 ngàn tỷ đồng cho đến năm 1994-1995). Hai là giúp đỡ bồi dưỡng hộ nghèo đói biết lamg giàu trên cả 2 phương diện:kinh tế kỹ thuật và kinh tế xã hội. Muốn vậy cần phát triển các tổ chức khuyển nông(như tỉnh An giang trong những năm vừa qua đã thành công trong việc sử dụng tổ chức này). Ba là phát trỉên mạnh mẽ nghành nghề phi nông nghiệp như công nghiệp chế biến công nghiệp nông thôn thủ công truyền thống sửa chữa nhỏ...Phát triển ngành nghề này sẽ mang đến 2 điều lợi sau đây:thứ nhất giài quyết dần số lao động dư thừa. Thứ 2 giá trị sản xuất hàng hoá tăng lên thêm nguồn thu nhập cho nông dân. Nhưng còn cần giao ruộng đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ổn định lâu dài cho hộ nông dân để họ yên tâm đầu tư sản xuất thực hiện thâm canh và chủ động chuỷên dịch cơ cấu nông nghiệp.

2.Chính sách kinh tế đối với doanh nghiệp nhà nước
     
Từ cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp chuyển sang sản xuất kinh doanh theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN là một thử thách to lớn đối với kinh tế quốc doanh. Đó là quá trình xác lập quyền tự chủ sản xuất kinh doanh của xí nghiệp nhằm phát huy mọi tiềm năng trên cơ sở giải phóng sức sản xuât. Thực tế hơn 10 năm qua chứng tỏ rằng quá trình đổi mới cơ chế quản lý kinh tế trong lĩnh vực kinh tế quốc doanh phải chú ý đến các tính chất đặc thù của nó. Khắc phục tình trạng vô chủ trong các xí nghiệp quốc doanh không mấy thuận lợi. Trong khi đó kinh tế quốc doanh phải là thành phần kinh tế chủ đạo trong nền kinh tế nhiều thành phần. Nhà nước nắm kinh tế quốc doanh như một công cụ quan trọng nhất để điều tiết định hướng nền kinh tế.
     
Ngay từ Nghị quyết Trung ương lần thứ 6(khoá IV) năm 1979 Đảng ta đã có chủ trương xác lập vai trò và quyền tự chủ kinh doanh các XNQD khuyến khích lợi ích kinh tế của người lao động. Cùng với những giải pháp chung cho nền kinh tế đang khủng hoảng nghiêm trọng những chủ trương naỳ đã bước đầu khơi dậy được động lực sản xuất kinh tế quốc doanh như bừng tỉnh và chủ động tìm kiếm con đường làm ăn mới có hiệu quả hơn.
     
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V và các văn bản của Chính phủ đã xác định mở rông quyền chủ động sáng tạo xác lập quyền tự chủ cho các đơn vị sản xuất kinh doanh; lấy đơn vị cơ sở làm trung tâm của quá trình cải tiến quản lý. Từ năm 1987 trở đi cơ chế quản lý kinh tế được đổi mới đảm bảo cho các xí nghiệp kinh tế quốc doanh có quyền thực sự chuyến sang hạch toán kinh doanh. Quan điểm này hết sức quan trọng và được cụ thể một bước trong Hội nghị Trung ương 3 (khoá VI năm 1989): trong khi các xí nghiệp quốc doanh chuyển sang hoạt động tự chủ hạch toán kinh doanh đồng thời đổi mới cơ chế quản lý Nhà nước về kinh tế đảm bảo quyền tự chủ cho các đơn vị cơ sở. Quyết định 217-HĐBT ngày 14-11-1987 ban hành các chính sách đổi mới kế hoạch hoá và hách toán kinh doanh XHCN đối với XN quốc doanh và quyết định ban hành những quy định bổ sung QĐ 217-HĐBT ngày 14/11/1987 cuả HĐBT ngày 2/12/1989 đã đánh dấu một  bước ngoặt quan trọng đối với các XNQD từ cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế hạch toán kinh doanh XHCN trên cơ sở được tự chủ sản xuất kinh doanh góp phần tháo gỡ những khó khăn thúc đẩy sản xuất phát triển.
     
Quyết định 217-HĐBT đi vào thực tế các đơn vị kinh tế quốc doanh đã tạo ra động lực nhất định do đơn vị kinh tế quốc doanh được tự chủ trên các lĩnh vực quản lý và sử dụng tài sản các nguồn vốn liên kết liên doanh kinh tế trong và ngoài nước. Tuy trên thị trường đã phải cạnh tranh gay gắt 30% xí nghiệp quốc doanh đã làm ăn có lãi. Đương nhiên động lực do QĐ 17-HĐBT đem lại bị triệt tiêu dần mà nguyên nhân quan trọng nhất vẫn là tư liệu sản xuất của Nhà nước thiếu người làm chủ thực sự và một  số giám đốc đã vượt quá quyền hạn lợi dụng làm giàu làm giảm lòng tin của công nhân. Vấn đề chính vẫn là người lao động phải làm chủ quá trình sản xuất sự kết hợp tư liệu sản xuất và sức lao động theo con đường ngắn nhất trực tiếp từ đó quyền hạn trách
nhiệm nghĩa vụ và lợi ích của người lao động được xác định. Trong nông nghiệp Đảng và nhà nước đã giải quyết thành công vấn đề làm chủ tư liệu sản xuất của người lao động do sơ hữu tư liệu  sản xuất nhà nước(ruộng đất) có thể phân chia thành quyền sử dụng và sở hữu để giao lại cho người nông dân quyền sử dụng và nhiều loại tư liệu sản xuất khác thành sở hữu độc lập nên nông nghiệp phát triển có dộng lực lợi ích kinh tế. Tình trạng người lao động thờ ơ với tư liệu sản xuất và sử dụng nó một cách lãng phí kém hiệu quả đã được chấm dứt. Còn trong các xí nghiệp quốc doanh việc xác định chủ sở hữu tư liệu sản xuất cụ thể đã từng đặt ra cấp bách. Luật doanh nghiệp nhà nước được ban hành đã khẳng định quá trình tìm tòi và thử nghiệm đó.
     
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII(1991) và chính phủ vẫn chỉ rõ tiếp tục xoá bỏ cơ chế quan liêu bao cấp hình thành đồng bộ và vận hành cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước tạo điều kiện môi trường cho các doanh nghiệp phát triển.
     
Tuy có nhiều cố gắng trong suốt hơn 10 năm qua kinh tế quốc doanh đã bắt đầu thích ứng với cơ chế mới đóng góp quan trọng vào việc giữ vững ổn định và phát triển kinh tế; nhưng nhìn chung kinh tế quốc doanh vẫn hoạt động kém hiệu quả. Sau quyết định 388/HĐBT tính đến cuối năm 1993 còn khoảng 6000 doanh nghiệp nhà nước. Trong đó chỉ có khoảng 200 đơn vị là đầu tư đúng hướng bám sát thị trường làm ăn có hiệu quả. Hiện vẫn còn hơn 30% số xí nghiệp làm ăn thua lỗ bị giải thể sát nhập chuyển sở hữu. Hiện có 0 5 triệu người lao động trong các xí nghiệp quốc doanh chưa có việc làm.
     
Doanh nghiệp quốc doanh không chỉ yếu kém trong cơ chế quản lý chứ xác định được chủ sở hữu đích thực mà còn do nhà nước chưa tạo được môi trường hành lang pháp lý cho các doanh nghiệp vận hành theo cơ chế mới.Mặt khác sự yếu kém về công nghệ tình trạng lạc hậu thiết bị thiếu vốn để hoạt động thiếu thị trường tiêu thụ...cũng làm cho các doanh nghiệp nhà nước không cạnh tranh được để phát triển sản xuất. Do đó các doanh nghiệp nhà nước trong quá trình cạnh đổi mới cơ chế chỉ thay đổi phương thức kinh doanh mà chưa xem xét vấn đề sở hữu. Tuy đạt được thành tích bước đầu nhưng chưa tạo được sự thay đổi căn bản về chất lượng. Những tiền đề để doanh nghiep Nhà nước có thể vượt ra khỏi khủng hoảng vẫn chưa được
xác lập.
     
Vấn đề quan trọng nhất để các doanh nghiệp Nhà nước phát triển là người lao động phải được đảm bảo lợi ích. Từ đó mới thực sự làm chủ xí nghiệp gắn trách nhiệm và quyền lợi của họ vào doanh nghiệp. Có như vậy
họ mới duy trì phát triển để nguồn lực sản xuất do gắn bó với xí nghiệp và quan tâm đền hiệu quả kinh tế xí nghiệp với tư cách là chủ một phần tài sản đó. Chừng nào người lao động còn yên tâm sản xuất cho mình thì chừng đó họ có thể đóng góp vào sản xuất. Huy động nguồn vốn trong dân cư để phát triển sản xuất mới là giải pháp cơ bản quan trọng nhất để phát triển kinh tế .Do đó việc cải tiển kỹ
thuật quản lý
chuyển đổi công nghệ sắp xếp lại để khẳng định vai trò chủ đạo của nền kinh tế quốc doanh trên thực tế mới được thực hiện.
     
Cố phần hoá các doanh nghiệp nhà nước hiện đang là giải pháp có nhiều hy vọng nhằm đổi mới doanh nghiệp Nhà nước. Nhưng một doanh nghiệp

nhà nước cố  phần hoá thành công phải có điều kiện cần và đủ. Điều kiện

 cần là doanh nghiệp đó có tiềm năng chịu được cạnh tranh mở rộng được thị trường trong và ngoài nước chuyển sang hạch toán thực sự... Điều kiện đủ là giàm đốc giỏi công nhân nhất trí đoàn kết và có khả năng mua được cổ phần. Do đó để có thể tiến tới cổ phần hoá thuận lợi các doanh nghiệp

trước hết phải làm ăn có lãi hoàn thiện cơ chế khoán đến các nhóm và người lao động cũng như tự hạch toán kinh doanh.
     
Cớ chế quản lý kinh tế phải được tiếp tục đổi mới tăng cường hiệu quả quản lý vỹ mô của nhà nước nhằm khắc phục những hoạt động tự phát tiêu cực và khiếm khuyết của cơ chế thị trường.Hoàn chỉnh hệ thông pháp luật các thành phần kinh tế đều được nhà nước quan tâm và bình đẳng phát triển để tạo nên sự cạnh tranh giữa các thành phần kinh tế cũng là một giải pháp quan trọng thúc đ y kinh tế quốc doanh phát triển.

( Còn nữa )

Ghi chú: (1)(2) Báo cáo tổng kết  HTX nông nghiệp 1958-1990 định hướng HTX nông nghiệp thời kỳ sau 1990. Ban NN TW tháng 9-1990 tr.22
(3) Kinh tế xã hội nông thôn- chính sách NXB ST H 1991 tr.46
(4) Kinh tế xã hội nông thôn Việt nam ngày nay NXB TTVH H1991 tr11 Và báo Nhân Dân 9-12-1993
( Bài đã in trong sách Bình luận khoa học hiến pháp nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 NXB KHXH - H 1995 )

More...