Nội sinh văn hóa Việt Nam: Trường hợp giao lưu văn hóa Pháp trước 1945 - VƯƠNG CƯỜNG

By VƯƠNG CƯỜNG

Nội sinh văn hóa Việt Nam: Trường hợp giao lưu văn hóa Pháp trước năm 1945

TS VƯƠNG CƯỜNG


      Trong suốt chiều dài lịch sử văn hóa Việt Nam liên tục có sự giao lưu với văn hóa khu vực và thế giới. Văn hóa được nói tới ở đây là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần được tạo ra trong suốt quá trình lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta.

Đây là vấn đề lớn cần nhiều thời gian và công sức nghiên cứu. Trong khuôn khổ bài viết này chúng tôi chỉ nhắc đến một trường hợp văn hóa Pháp để minh họa nó có ảnh hưởng lớn đến văn hóa Việt Nam thời hiện đại.

      Năm 1858 sau khi xâm lược nước ta Thực Dân Pháp từng bước thiết lập chế độ chia để trị trực tiếp nắm giữ các chức vụ chủ chốt trong bộ máy nhà nước. Ảnh hưởng văn hóa Pháp tăng lên mạnh mẽ khi Pháp bình định xong và bắt đầu khai thác thuộc địa ở Việt Nam. Văn hóa Pháp ảnh hưởng đến Việt Nam dường như tỷ lệ thuận với chính sách khai thác đó.

 

1.    Ảnh hưởng từ Văn hóa vật chất

 

      Dưới chế độ phong kiến đô thị Việt Nam đều nhỏ bé từ kinh đô Phú Xuân đến Thăng Long Gia định…Xã hội tiểu nông không đủ sức phát triển ngay cả thị thành. Nền sản xuất hàng hóa bị kìm chế chưa xuất hiện để tạo ra sự đòi hỏi mạnh mẽ phát triển hạ tầng giao thông. Tất cả đường quốc lộ nối liền Bắc – Trung – Nam và tỉnh lộ đều là đường đất. Những hải cảng Hội An hay Phố Hiến một thời sầm uất cũng bị bồi lấp.

      Người Pháp đã xây dựng các đô thị quan trong phục vụ cai trị và khai thác thuộc địa trên toàn Đông Dương như Hà Nội Hải Phòng Nam Định Vinh Đà Nẵng Quy Nhơn Nha Trang Đà Lạt Sài Gòn Chợ Lớn Huế Mỹ Tho… Xây Cảng nhà rồng nhà máy điện Chợ Quán xưởng sửa chữa tàu thủy Ba Son nhà máy rượu Bình Tây bia Hà Nội. Cầu Long Biên khánh thành năm 1902 nhà hát lớn Hà Nội năm 1911… Đặc biệt năm 1885 chuyến tàu đầu tiên chạy từ Sài Gòn đến Mỹ Tho đánh dấu sự ra đời của đường sắt VN. Thời gian từ 1899 đến 1936 Pháp xây xong đường sắt Bắc Nam. Quả thật đường sắt chạy tới đâu thì văn minh chạy tới đó ao tù phong kiến đã rộn ràng hơn nhờ sự giao lưu.

      Các đô thị bắt đầu trở nên sầm uất nền công nghiệp bắt đầu phát triển. Pháp tiếp tục xây dựng các nhà máy nước nhà máy đèn nhà máy tơ nhà máy dệt nhà máy in nhà máy xe lửa Gia Lâm Vinh Quy Nhơn…Các xí nghiệp khai khoáng than vàng thiếc…Các bệnh viện và trường đại học Đông Dương Bách Nghệ Y khoa trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông dương…

      Từ xã hội phong kiến Việt Nam dần chuyển sang xã hội nửa phong kiến nửa thực dân. Chính cái phần nửa thực dân này xét về mặt xã hội hóa nước ta đã vận động xa hơn nhiều so với cả ngàn năm như đứng yên. Xã hội bắt đầu xáo trộn phân hóa mạnh hơn. Nhờ đó đã vô tình mở ra cánh cửa cho trí thức VN tiếp xúc với nên văn hóa Pháp pha loãng tính thủ cựu sau lũy tre làng.    

Phía sau kinh tế - xã hội là văn hóa. Thực dân Pháp xây dựng nhằm vơ vét tài nguyên của cải về làm giàu cho chính quốc người Việt bị bóc lột thậm tệ hơn trước. Sự tha hóa con người ngày một sâu sắc hơn trong cái xã hội như lẽ tự nhiên. Mặt khác việc chúng xây dựng các đô thị cũng như phát triển công nghiệp đã mang lại sự nhận thức văn hóa mới cho người Việt Nam. Xã hội với cấu trúc tứ dân (Nông công thương trí) đã có những đổi thay. Công và thương phát triển nhanh hơn làm xuất hiện giai cấp công nhân và lực lượng trí thức tiến bộ.

      Kiến trúc Pháp đã mang đến vẻ đẹp không chỉ thẩm mỹ Pháp mà còn mang dáng dấp Việt Nam. Sự chuẩn mực chi tiết vẻ đẹp tổng thể đã góp phần thay đổi nhận thức thẩm mỹ. Quy hoạch đô thị Pháp quan tâm đến cả chi tiết nhỏ của người sử dụng. Cư dân đô thị được tiếp nhận phong cách văn hóa cao hơn. Vậy là bên cạnh những quan niệm thẩm mỹ truyền thống có sự đan xen nhất định thẩm mỹ hiện đại. Phong cách và lối sống ít nhiều thay đổi. Áo the khăn xếp guốc mộc đã dần thay đổi và người dân thành thị và trí thức đã dần chấp nhận quần áo âu tây. Hình ảnh trí thức công chức Hà Nôi mặc quần áo soocs trắng mũ cát trắng miệng ngậm tẩu tay cầm batoong còn trong trí nhớ nhiều người.

 

2. Ảnh hưởng từ Văn hóa tinh thần

 

      Mặc dù giáo dục đào tạo chủ yếu đào tạo ra những người phục vụ cho chế độ thực dân và nhằm mục đích khai thác thuộc địa nhưng bên cạnh đó ý nghĩa phái sinh cũng dần được lập trật tự mới. Người Việt Nam giàu có bắt đầu cho con em du học tại Pháp hoặc trường do TDPháp lập ở các đô thị lớn. Khi trí tuệ được khai mở thì văn hóa cũng được phát triển hơn nhờ các cuộc giao lưu.

      Sự tha hóa xét một khía cạnh đối lập cũng là bước tiến lên của lịch sử đang tích lũy. Những chính sách của thực dân Pháp lại có tác dụng phái sinh nhờ đó một số người VN được học tập tiếp xúc với một xã hội khác tiến bộ hơn. Kết quả của các cuộc giao lưu làm xuất hiện nhiều thay đổi trong văn hóa Việt Nam rõ nét nhất ấn tượng nhất trong văn hóa tinh thần là sự hình thành và phát triển nền văn học Việt Nam điển hình nhất là văn học 1930 – 1945.

      Cuộc cách mạng thơ mới ở nước ta nổ ra và thành công bước đầu từ 1930 -1945. Năm 1917 trên Nam Phong tạp chí đã kêu thơ VN phiền phức luật lệ ràng buộc. Năm 1932 Tình già của Phan Khôi xuất hiện trên Phụ nữ tân văn tự do không theo đường luật. Đó là ngọn gió đầu tiên bắt đầu từ một nhà "cựu học" thổi vào thơ VN tự nhiên phóng khoáng được lớp trẻ và đông đảo bạn đọc đón nhận dù yếu ớt những người cổ học chống đối. Những nhà thơ tuổi đời còn rất trẻ như Thế Lữ Lưu Trọng Lư Xuân Diệu Chế Lan Viên Huy Cận Hàn Mặc Tử Lan Sơn Tế Hanh Nguyễn Xuân Sanh Nguyễn Nhược Pháp Nguyễn Bính...gặp gió mới tạo ngay  thành cơn bão lớn. Ngay cả Bích Khê khi xuất hiện trình làng bằng đường luật cũng lập tức theo thơ mới.

      Thơ mới đã góp phần làm cho thơ gần với con người nhất là trí thức trẻ gần với thiên nhiên cùng với thiên nhiên ngân vang tình yêu. Thơ trở về từ cảm xúc như tiếng hót không kìm được của họa mi khi trăng lên chứ không phải bóp trán nhăn mặt tìm điển tích niêm luật...Trước đó ở Việt Nam chủ yếu là thơ đường một thể thơ được du nhập vào từ Trung Quốc và thơ lục bát được xem là hồn dân tộc. Bạn có thấy rằng thơ là tình là cảm của con người được cất lên hay thoát ra từ bối cảnh lịch sử cụ thể trong đó yếu tố đầu tiên là kinh tế - xã hội văn hóa…nguồn gốc của những buồn vui đau khổ hay hạnh phúc. Ngay với nhà thơ Xuân Diệu từng viết: Cơm áo không đùa với khách thơ đó sao?
      Kinh tế - xã hội chỉ mới tác động chứ chưa thể có thơ nếu thiếu nhân vật chính đó là các nhà thơ. Những người có khả năng đặc biệt tinh tế trước những tác động thay đổi trong tình cảm của mình với mình và với nhiều người. Thật may mắn cho chúng ta ở giai đoạn này có nhiều tài thơ được sản sỉnh ra từ trong bối cảnh lều chõng đã suy tàn và tây học đang lên ngôi. Những nhà thơ - trí thức này đã tiếp xúc với nền văn hóa giáo dục Pháp  không chỉ mang trong mình truyền thống văn hóa dân tộc mà còn biết tiếp thu tinh hoa nhân loại. Sự kết hợp này làm cho thơ mới tuy chưa thật phản ánh được tinh thần đời sống người Việt Nam với văn hóa riêng nhưng một bộ phận thích hợp và tạo ra dấu hiệu bản sắc riêng không phải lai căng.
      Không chỉ các nhà thơ hòa mình vào cơn bão lớn mà lịch sử còn tạo ra một lớp bạn đọc mới đòi hỏi và tiếp nhận thơ mới. Tầng lớp bạn đọc này đa số và trước hết những người có học có ảnh hưởng từ nền giáo dục Pháp. Trong số các nhà thơ khăn xếp áo the guốc mộc Xuân Diệu nói như nhà phê bình thơ thiên tài Hoài Thanh xuất hiện với bộ comble ca vát giày tây lộng lẫy ban đầu xa lạ với những người xung quanh nhưng lại rất được lớp trẻ mến mộ. Vì thơ ông vẫn mang sâu đậm văn hóa dân tộc không hề xa lạ với bạn đọc. “Con cò trên ruộng cánh phân vân” hình ảnh đó rất Việt Nam. Từ đó không chỉ lớp trẻ mà ngay cả những người già cũng dần chấp nhận ông.

      Nếu thiếu đi tầng lớp bạn đọc mới có thể thơ mới chưa được tiếp nhận và phát triển nhanh chóng   nồng nhiệt như thế.

Các yếu tố chủ yếu để tạo nên phong trào như đã có nên thơ mới phát triển nhanh chóng thơ cũ bị đẩy lùi. Một bước tiến xa góp phần cho văn hóa Việt Nam độc lập phát triển tự tin trong giao lưu. Người ta tìm đọc nó chứ  thơ  không mất công tìm họ. Đây là lần đầu tiên người đọc với khao khát cái mới đi tìm thơ. Và quả thật thơ đã đáp ứng một phần nhu cầu của họ. Lần đầu tiên tình yêu được bộc bạch dưới nhiều cấp độ với nhiều cung bậc mà trước đó con người khao khát ít thấy trong thơ. Chế độ phong kiến hà khắc cấm đoán tình yêu “nam nữ thụ thụ bất thân”như vỡ ra và người ta tìm đến thơ như cái mới được chia sẻ thơ tình với nhiều hình ảnh đẹp:

Bóng ai thấp thoáng ngoài hiên vắng

Em đã vô tình vội ngẩng lên

(Lan Sơn)

      Nền văn học nước nhà trong giai đoạn này còn lấp lánh bởi văn học hiện thực phê phán. Nhiều nhà văn xuất sắc đại diện như Vũ Trọng Phụng với Số đỏ Giông tốp Nguyến Công Hoan với Kép Tư Bền Bước đường cùng Ngô Tất Tố với Việc làng Tắt đèn Nam Cao với Chí Phèo Sống mòn…Hàng loạt tác phẩm từ thơ ca đến văn xuôi kịch…cho thấy văn học Việt Nam đã hút được tinh hoa văn hóa Pháp nói riêng và phương Tây nói chung. Văn hóa Việt Nam mang hồn dân tộc Việt Nam đó là nguồn gốc tiếp nhận được tinh hoa văn hóa nhân loại nói chung và văn hóa Pháp nói riêng trong các cuộc giao lưu. Sự phát triển của văn học hiện đại gắn liền với sự hoàn thiện chữ quốc ngữ. Vai trò Hán tự dường như chấm dứt giới trí thức Tây học sử dụng Pháp ngữ để đọc và chữ quốc ngữ để viết. Tiếng Việt ngày càng phong phú đủ khả năng diễn đạt những khái niệm trừu tượng. Qua giao lưu nhiều từ vững gốc Pháp được du nhập làm giàu cho ngôn ngữ tiếng Việt.

      Tuy nhiên cả thơ mới và văn học hiện thực phê phán còn nhiều hạn chế dường như chưa thể đòi hỏi hoàn thiện. Những cái nhìn bế tắc loanh quanh với cái tôi chưa nhìn thấy hoặc rất ít thấy người làm thay đổi lịch sử chính là những người lao động lầm than là con đẻ của chính sách khai thác thuộc địa của Pháp và người nông dân chân lấm tay bùn làm thuê nghèo kiệt trên đồng ruộng và xóm làng xơ xác kia. Muốn nhìn thấy họ cần lột xác lần nữa…

      Nhiều cuộc tranh luận hay đấu tranh tư tưởng mặc dù chưa phân thắng bại nhưng nhờ đó mà nhiều tư tưởng mới ăn sâu vào thực tiễn đời sống. Cuộc tranh luận nghệ thuật vị nghệ thuật và nghệ thuật vị nhân sinh nổ ra trong điều kiện các luồng tư tưởng mới cũ va chạm vào nhau. Những quan điểm hoàn toàn mới của Đảng cộng sản qua tranh luận bước đầu đã thổi luồng gió mới vào thực tiễn văn hóa Việt Nam. Đó là lần đầu tiên quan điểm Mác Lê Nin thâm nhập vào đời sống trước hết là đời sống tinh thần đời sống văn hóa. Chính những quan điểm này dần dần thành chủ đạo nền văn hóa Việt Nam làm cho Văn hóa ngày càng vươn tới xu hướng trọn vẹn có ý nghĩa thiết thực phục vụ nhân dân lao động vực họ đứng dậy người sẽ làm chủ xã hội trong tương lại. Những quan điểm này và sau này đường lối văn hóa của ĐCS Việt nam đã mở đường cho văn hóa trong đó có văn học hướng tới đời sống thực tiễn và khắc phục sự bế tắc trong văn học 1930 – 1945.

       Tư tưởng thống trị tuy còn độc tôn nhưng những nhân tố mới đã đan xen chia cắt và lớn dần lên. Văn hóa Việt Nam thời này còn đánh dấu sự ra đời của một thế hệ họa sỹ tài hoa lừng danh cho nước ta như Tô Ngọc Vân Trần Văn Cẩn Bùi Xuân Phái Dương Bích Liên…Họ là những sinh viên Việt Nam đầu tiên được đào tạo tại Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông dương do người Pháp sáng lập. Những tên tuổi này cho đến hiện nay gần như chưa có ai vượt qua. Ảnh hưởng của họ rất lớn trong sự phát triển hội họa Việt Nam hiện đại. Nhiều lĩnh vực khác như tân nhạc kiến trúc ẩm thực…cũng thay đổi nhanh chóng nhờ có sự giao lưu…
       Vì sao có một giai đoạn bừng lên trong văn hóa mặc dù chưa hoàn thiện?

Thứ nhất cái tôi cá nhân chủ nghĩa từ văn hóa Pháp tác động. Các nhà thơ nghệ sỹ họa sỹ say sưa với cái đẹp thuần túy vĩnh hằng. Chữ Hán tiếng Hán mất dần ảnh hưởng một luồng gió mới đã thổi vào xã hội Việt Nam. Chữ quốc ngữ và tiếng Pháp dần chiếm lĩnh vì nó đại diện tính dân tộc và tính hiện đại trong ý thức vượt lên của người dân. Tầng lớp trí thức Tây học đã hình thành. Nhiều trí thức Tây học xuất sắc có tầm ảnh hưởng lớn ra đời. Báo chí cũng đang phát triển và mang lại nhiều làn gió mới như Nam Phong tạp chí hay Đông dương tạp chí…

Thứ hai Chủ nghia lãng mạn trong văn học Pháp có tác động lớn.

Thứ ba lý luận Mác xít thâm nhập vào Việt Nam theo hai con đường. Một là sự ra đời của ĐCS Pháp và sự xuất hiện văn học hiện thực XHCN và lý luận văn học Macxit tại Pháp ảnh hưởng vào nước ta. Hai là Đảng Cộng Sản Đông dương

chủ động tuyên truyền. Cuộc tranh luận nghệ thuật vị nghệ thuật nghệ thuật vị nhân sinh những cuộc đấu tranh tư tưởng giai đoạn này cũng góp phần làm cho văn học thời kỳ này có ảnh hưởng tư duy mới.

Tuy nhiên không chỉ văn học mà phê bình văn học hội họa kiến trúc âm nhạc lối sống cũng ảnh hưởng.

      Cần chú ý bên cạnh những tiến bộ thì ảnh hưởng tiêu cực từ văn hóa Pháp tới văn hóa Việt Nam cũng rất lớn. Chính sách văn hóa nô dịch thực dân chính sách mỵ dân các học thuyết tư sản và duy tâm cũng ảnh hưởng nặng nề. Ảnh hưởng tiêu cực rõ rệt nhất là dưới ách cai trị của thực dân pháp con người Việt Nam bị tha hóa nhanh chóng. Vì mục đích phục vụ chính sách cai trị vơ vét tài nguyên của cải của nước ta nhân dân ta bị cai trị bị bóc lột nặng nề. Ở thành phố đã xuất hiện Tám Bính Xuân Tóc đỏ…Ở nông thôn đã xuất hiện Chí Phèo anh Pha chị Dậu…Xã hội Việt Nam tiêu điều xơ xác. Giáo dục Pháp mục đích chủ yếu đào tạo người làm việc cho thực dân cam phận làm tay sai. Nhưng nhiều trí thức mang trong mình văn hóa Việt Nam không chỉ thuận chiều. Đó cũng là cơ hội để những tư tưởng mới bản lĩnh văn hóa Việt Nam chứng tỏ mình. Đó cũng là môi trường tốt khi tư tưởng cách mạng Mac xít thâm nhập và được nuôi dưỡng phát triển nhanh chưa từng có. Lịch sử cũng chứng minh văn hóa Việt Nam khi có lý luận Mác Lê nin thì lập tức có sự thay đổi về chất làm nên cuộc cách mạng 1945 lật đổ hoàn toàn chế độ áp bức bóc lột của thực dân Pháp và phong kiến Việt Nam.

Như trên chũng tôi đã phân tích trong sự giao lưu văn hóa Pháp – Việt hệ quả phái sinh nằm ngoài ý tưởng của thực dân Pháp. Điều này chỉ chứng tỏ văn hóa Việt Nam tự nó có nội lực để tự bảo vệ mình và tận dụng điều kiện để vượt lên. Chính sách ngu dân bần cùng hóa người lao động Việt Nam sự bóc lột thậm tệ của thực dân Pháp sự tha hóa con người trong xã hội hai tầng áp bức thực dân và phong kiến sự tích lũy văn hóa Việt Nam luôn đặt thực dân Pháp và chế độ phong kiến vào thái độ đề phòng chống lại nhân dân Việt Nam. Sự phát triển tất yếu của lịch sử và sự tích lũy đến độ đã cho thấy văn hóa Việt Nam chưa bao giờ bị đồng hóa. Chọn lọc văn hóa tiến bộ của nước Pháp và nhiều trào lưu các nước khác đã chứng tỏ sức sống bền bỉ luôn tích lũy và khi cơ hội đến sức mạnh của văn hóa Việt Nam đã thể hiện trong sự quyết dành độc lập tự do như thế nào…

 

 

Tài liệu tham khảo và có sử dụng chính:

1. Toàn cầu hóa – phương pháp luận tiếp cận

GS Nguyễn Đức Bình…

NXB Chính trị quốc gia H 2001

2. Toàn cầu hóa những vấn dề lý luận và thực tiễn

GS.TS Lê Hữu Nghĩa TS Lê Ngọc Tòng(Chủ biên)

NXB Chính trị quốc gia H. 2004

3. Xu thế toàn cầu hóa trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI

(Sách tham khảo)

GS.TS Lê Hữu Nghĩa PGS TS Trần Khác Việt…(Đồng chủ biên)

NXB Chính trị quốc gia H. 2007

4. Văn hóa Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế

Nguyễn Chí Bền (chủ biên)

NXB chính trị quốc gia H.2010

5. Văn hóa Đông Á trong tiến trình hội nhập

(Sách tham khảo)

Đỗ Tiến Sâm Phạm Duy Đức (Chủ biên)

NXB Chính trị quốc gia H. 2010

6. Đặc trưng Văn hóa – Dân tộc 

Nguyễn Đức Tồn

NXB KHXH H. 2008           

 

 

 

 

 

More...

Hãy cho tôi đôi mắt! - VC

By VƯƠNG CƯỜNG

 

Văn học viết về nông thôn: Hãy cho tôi đôi mắt!

( Bài viết lần 2 )

VƯƠNG CƯỜNG

     
Những bước chân bùn đất của nông dân không chỉ đã từng để lại trên bờ ruộng lúa nương dâu hay trên những con đường làng quê dưới bóng tre làng dưới gốc đa xoè tán gọi một trời chim chóc thanh bình mây trắng. Không chỉ để lại trên các nẻo đường đánh giặc 30 năm mà nó còn để lại trên con đường manh nha đổi mới ở nước ta. Những năm trước 1980 đất nước rơi vào cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội nghiêm trọng người chịu nhiều khó khăn gian khổ nhất chính là nông dân. Trong cuộc thử thách thời bình ấy người tuyên chiến đầu tiên với cơ chế bao cấp chính là nông dân. Đời sống nông dân với bình quân thu nhập 11 4kg một tháng họ đã rơi vào tình trạng bấp bênh giữa sống và chết. Trong hoàn cảnh đó họ đã tìm ra cách khoán được gọi là "khoán chui ". Tuy không được nhà nước ban đầu ủng hộ những người nông dân ở Thổ Tang ( Vĩnh Phú ) ở Đoàn Xá ( Hải Phòng ) ở Yên Thành ( Nghệ An )...đã lén chình quyền tự mình bươn chải khoán chui! Không ngờ khoảng 7 năm sau khoán chui được Đảng thừa nhận trong chỉ thị 100 của BBTTƯ. Từ đó le lói một con đường làm ăn trước hết cho nông nghiệp. Cũng từ đây các ngành khác làm theo. Năm 1986 mệnh lệnh đổi mới đất nước được phát ra từ đại hội VI ĐCSVN. Cuộc cách mạng nhằm thay đổi cơ chế quản lý kinh tế xoá bỏ cơ chế bao cấp chuyển sang kinh tế thị trường bắt đầu!
     
Cơ chế thị trường đến cơ chế ấy lấy lợi nhuận làm mục đích làm thay đổi tận gốc những gì đang có. Mang theo một đôi quân thiện xạ quy luật giá trị giá cả quan hệ cung cầu... đẩy nề kinh tế nặng về nông nghiệp lạc hậu vào chân tường. Nông dân nhân vật của văn học nông thôn đã được đặt vào tình huống mà họ chưa bao giờ gặp phải. Họ có thể quay quắt xoay tròn trong cơn bão thị trường hơn thế nữa thị trường toàn cầu hoá. Vượt qua những thử thách trên con đường không thể tránh được kinh tế thị trường đã có  bao nhiêu thay đổi thành công đã đưa đến sự giàu có nhất định. Nhưng cơ chế đó có tình hai mặt dường như nông dân lĩnh đủ mặt trái của nó. Chúng ta lại bắt gặp những dấu chân bùn đất từ trong những ngõ ngách của các thành phố đặc biệt từ thủ đô Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Từ sáng sớm hay giữa đêm khuya ta vẫn thấy những bước chân bùn đất ấy sau những gánh rau quầy hàng nhỏ hay chỉ là chiếc xe đẩy xủng xoẻnh đủ loại hàng lặt vặt. Hay nghe những tiếng rao giữa những đêm khuya khi cư dân thành phố đang ngồi xem tivi nghe ca nhạc thậm chí đã ngủ rồi. Những bước chân bùn đất như bất tận không kể thời gian hay không gian.
     
Trên thế giới không có quốc gia nào muốn giàu có lại bắt đầu từ nông nghiệp nông dân nông thôn cả! Họ đều hướng tới công nghiệp nhất là công nghiệp mũi nhọn nơi có nhiều hứa hẹn cho lợi nhuận cao. Đó dường như cũng là quy luật. Muốn phát triển công nghiệp không thể không lấy đất của nông nghiệp nông thôn. Nhiều người nông dân không thể chuyển đổi được ngành nghề vả lại có chuyển đổi được lấy ra đâu khả năng cạnh tranh với các doanh nghiệp trong và ngoài nước. Những vùng quê đất chật người đông lại một lần xáo động có nơi hàng ngàn người mất đất sản xuất có nơi còn mất cả đất thổ cư. Nghe nói đất thổ cư có vẻ bình thường đến như vô cảm nhưng trong lòng đất ấy văn hoá dân gian đã được cha ông trầm tích và lưu giữ cũng mất theo. Những bến nước con đò những cánh đồng cò bay rợp cánh nhưng đêm trăng thanh gió mát tiếng diều tiếng sáo cũng xa dần. Những ngôi nhà những mái đình công cong cổ kính chiều chiều gửi vào không gian những dấu hỏi với người quê cũng dần mất. Có gì như mâu thuẫn cuộc chiến tranh kinh tế nhân lực được coi là hàng đầu để chiến tháng. Trong cơ cấu nhân lực yếu tố văn hoá dân tộc lại được đặt lên hàng đầu để họ phả hồn vào sản phẩm mới có sức cạnh tranh lớn!
     
Biết bao nhiêu người nông dân tay lấm chân bùn kia theo tiếng gọi của sự sống đã ra đi đi về những nơi đất hứa. Họ bị dạt đi trong bão táp của kinh tế thị trường toàn cầu hoá. Khi họ có dịp quay về làng quê đã biến đổi khác. Không biết họ mừng vui hay buồn trước một làng quê những ngôi nhà ép vào nhau thành nhà ống khi ruộng vườn không còn? Cuộc biến đổi này còn kéo dài bất tận. Nông thôn vốn là nơi thanh bình thuở nào giờ im lìm lác đác mới thấy người chỉ có người già và học sinh. Nam thanh nữ tú đã đi khỏi làng kiếm sống từ lâu rồi. Đo thị hoá là chiếc nam châm khổng lồ đang hút họ trở về thành phố. Còn rất lâu chúng ta mới thấy hiện tượng đô thị hoá ngước tức là người ta lại đổ về nông thôn sinh sống. Vốn là nông dân họ đến thành phố cũng chỉ làm những công việc giản đơn thôi.  Cuộc sống thành phố hàng ngày nhiều cảm bẩy thử thách họ. Đâu phải ai cũng vượt qua. Có người cho rằng hơn 50% tệ nạn ở đô thành lại bắt đầu từ những người vốn là nông dân rời làng rời ruộng. Thế đấy những bước chân nông dân còn đặt vết bùn đất cả những quốc gia xa lạ họ chưa từng biết. Ở đó họ làm osin làm thuê mướn không phải bao giờ cũng được đối xử tốt.
     
Lãng mạn hơn một chút ta xem những bước chân bùn đất của nông dân toả ra khắp nơi ấy là cây vĩ cầm thứ nhất. Cãi lãng mạn này cũng có cơ sở bởi cuộc chiến tranh kinh tế mọi nhà nước đều đang tập trung vào kinh tế mũi nhọn. Nông dân cũng sẽ giàu lên và phát triển như thường. Người Hàn Quốc đã từng "bỏ rơi" nông dân khoảng 10 năm tập trung toàn bộ trí lực của đất nước hướng về công nghiệp để làm giàu. Khi ấy họ quay lại giải quyết những vấn đề nông nghiệp nông thôn nông dân. Hiện nay người dân Hàn Quốc đã 100% là dân đô thị!
     
Sự biến thiên như vô tình ấy theo tôi đang thử thách cánh nhìn của nhà văn. Tôi muốn gọi cây vĩ cầm thứ hai là những tác phẩm viết về nông dân nông thôn trong điều kiện kinh tế thị trường đã toàn cầu hoá. Từ xưa đến nay theo tôi những tác phẩm văn học nổi tiếng thường là tác phẩm viết về nông dân hay có nhân vật nông dân. Nhưng đó là một nông thôn nông dân ít có bước nhảy vọt về làm ăn kinh tế. Khi họ bị áp bức bóc lột hay họ vùng lên đi giải phóng đất nước giành độc lập tự do. Lịch sử đã như đồng tình với các nhà văn. Có những nhân vật nổi tiếng đến mức trở thành thành ngữ! Không ai có quyền phủ nhận những thành tựu ấy.
     
Nhưng thời đại mới lại cho ta những nhận thức mới nhất là khi loài người đã bước vào toàn cầu hoá. Nếu nhìn lại những tác phẩm viết về nông nghiệp nông dân nông thôn sau khi đất nước thống nhất đến nay ta vẫn còn nhiều đòi hỏi lắm. Liệu cây vĩ cầm thứ hai này có khi nào cộng hưởng với cây đàn thứ nhất để làm nên bản nhạc du dương về nông nghiệp nông dân nông thôn? Phải nói rằng chưa! Bản nhạc đó có khi có lúc cộng hưởng nhưng xét toàn bộ thì vẫn chưa bao giờ! Khi người nông dân đã quá khiếp sợ về một HTX nông nghiệp nó trở thành xiềng xích với họ và họ biết không hy vọng gì vào mô hình bao cấp ấy giúp họ vượt qua nghèo đói thì nhà văn vẫn còn say sưa môt tả về nó. Nhân vật chính vẫn hồn nhiên làm chủ nhiệm HTX! Khi người nông dân nhân vật chính của nhà văn đã manh nha tìm một con đường đổi mới để dần phát hiện con đường duy nhất đi đến giàu có tất nhiên có nhiều đau đớn thì một số tác phẩm vẫn viết như thời bao cấp. Khi kinh tế hàng hoá đã bước sang kinh tế thị trường sức giải phóng do nó sinh ra lớn đến mức chế độ phong kiến ngàn năm bị chảy ra trong chớp mắt lịch sử. Ấy vậy mà nhà văn vẫn tưởng mâu thuẫn trên bước đường đi lên ấm no giàu có ở nông thôn là mâu thuẫn các dòng họ! Khi tôi nói những điều này thực tiễn đã trải qua khoảng xấp xỉ 20-30 năm có nghĩa ta hoàn toàn kiểm nghiệm được! Có phải HTX nông nghiệp kiểu cũ đã tự mất không ? Nông dân đã trở thành hộ gia đình tự chủ phát triển kinh tế ? Có phải nông dân đã lần lượt ra đi khỏi làng theo mùa vụ hoặc ra dần ở thành phố ban đầu theo sức hút của đô thị hoá không? Liệu có làng nào các cụ còn thời gian thanh niên còn sức để tranh chấp mồ mả gây sự mất đoàn kết ở làng quê không ? Có phải làng quê đang đặt ra nhiều vấn đề từ văn hoá dân tộc hay trí thức nông thôn cần phải có chính sách giữ gìn không
     
Tôi vẫn tin có ngày hai cây vĩ cầm ấy cộng hưởng. RaxunGamZatop có lần nói đừng nói cho tôi đề tài mà hãy nói cho tôi đôi mắt. Tôi hiểu ông muốn nói tới phương pháp nhìn nhận phương pháp sáng tác! Quả thật đề tài đâu có thiếu chỉ cần có đôi mắt! Nền kinh tế toàn cầu hoá đang diễn ra mạnh mẽ. Loài người đã trải qua ba vòng sóng văn minh văn minh nông nghiệp mất hàng vạn năm hai văn minh công ngghiệp mất khoảng 500 năm và hiện tại đang ở văn minh tin học các nhà khoa học dự kiến vài chục năm. Thế đấy chúng ta đang cùng chơi với những nền văn minh khác nhau tôi cho rằng chúng ta đang ở vòng sóng thứ nhất! Bằng chứng là hơn 70% lao động vẫn là nông dân thu nhập chính của đại đa số dân cư vẫn từ nông nghiệp nông nghiệp đóng góp vào GDP vẫn còn xấp xỉ 40% Việt Nam đang phấn đấu đến năm 2020 trở thành một nước cơ bản là công nghiệp! Bằng chứng là còn rất nhiều người yêu thơ...Nguyễn Bính ngôn ngữ trong thơ ông là đặc sản nông nghiệp nông dân nông thôn.
     
Ai cũng biết muốn thành nhà văn trước hết phải có năng khiếu chưa biết giải thích thế nào ta tạm đồng ý trời cho. Chỉ có những người có năng khiếu trời cho mới chơi được ở sân chơi đỉnh cao văn học không thể ngoại lệ. Nhưng thực tiễn ai cung biết ngày nay cuộc sống biến đổi quá nhanh chỉ dựa vào năng khiếu lại có khi không đủ hoàn toàn không đủ. Ai cũng biết phê bình văn học ở nước ta từ lâu quên mất nhiệm vụ dẫn đường. Phê bình chỉ còn làm mỗi việc khen nhiều chê ít. Bởi chê cũng rất khó căn cứ vào đâu mà chê? Nếu chỉ từ những nguyên lý truyền thống đã thuộc về quá khứ chưa đủ làm thước đo chính xác được nếu không hiểu rõ ngọn nguồn thực tiễn phát triển như rất hỗn độn hiện nay. Tôi nghe một số nhà phê bình cứ lấy tây ta đâu đâu mà khoe chữ nghĩa. Người nông dân không cần biết những chữ nghĩa kiểu đó nền văn học không cần nhiều chữ nghĩa kiểu đó. Nhà phê bình hãy đứng ra không chơi bài bí thì nói chữ vậy.
     
Tôi vẫn mong muốn bên cạnh năng khiếu trời cho kia nhà văn cũng cần biết sự vận động của kinh tế - xã hôi theo đúng quy luật vận động của nó. Tất nhiên sự vận động của kinh tế - xã hội chưa bao giờ là văn học cả. Nó chỉ làm cơ sở cho văn học nơi mọi tình cảm yêu thương hờn giận đau đớn ước mơ...trong cuộc đi về cái thiện. Nhân vật của nhà văn không thể không bị sự vận động đó quy định. Cho nên chừng nào nhà văn còn chưa nắm thật chắc cái cơ sở đó thì khi viết ra đôi khi mâu thuẫn với thực tiễn mà tôi đã dẫn trên đây hai tác phẩm khá nổi tiếng và điển hình. Vậy theo tôi hiện nay một nhà văn cần hai yếu tố cực kỳ quan trọng để có thê viết nên tác phẩm của mình. Một là năng khiếu trời cho và hai là nhà văn phải có sự hiểu biết như một nhà khoa học xã hội. Khi ấy tác phẩm hay đến đâu còn tuỳ thuộc tài năng nhưng sẽ không mâu thuẫn với thực tiễn đang vận động. Khi ấy chúng ta sẽ thấy người nông dân nhân vật chính của chúng ta đang lên bờ xuống ruộng nhưng sẽ đến hướng mặt trời!


HN 3-12-2009
VC

More...

Bình luận khoa học hiến pháp nước CHXHCNVN năm 1992 - Chế độ kinh tế - TS VƯƠNG CƯỜNG

By VƯƠNG CƯỜNG


CHÍNH SÁCH KINH TẾ CỦA QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI KIN H TẾ Ở NƯỚC TA
TS VƯƠNG CƯỜNG


( Tiếp theo và hết)
 

     3.Chính sách kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước.
     
Nghị quyết Đại hội VII của Đảng cộng sản Việt Nam đã khẳng định phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng XHCN vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước. Để đi đến quyết định này Đảng đã tìm tòi thể nghiệm và tổng kết thực tiễn hơn 10 năm.
     
Một trong những chủ trương quan trọng của Nghị quyết trung ương lần thứ 6(khoá IV)-Nghị quyết đánh dấu tư tưởng đổi mới-là chấp nhận ở mức độ bổ sung quan hệ hàng hoá-tiền tệ cho hệ thống kế hoạch hoá tập trung.Cùng với một số giải pháp tháo gỡ cho sản xuất nông nghiệp chủ trương này đã chấp nhận nên nhanh chóng diễn ra xu hướng phát triển các quan hệ  hang hoá-tiền tệ như một tất yếu khách quan đời sống kinh tế bắt đầu đổi mới nhờ bước đầu xác lập mối quan hệ giá trị.Suốt mấy thập kỷ trước đó do không thừa nhận có sản xuất hàng hoá trong CNXN nên quan hệ hang hoá-tiền tệ chỉ tồn tại hình thức mà mất nội dung kinh tế của nó.Trong mô hình CNXH đó người ta nhầm tưởng rằng quan hệ hàng hoá-tiền tệ và cơ chế thị trường là một phạm trù riêng có của chế độ tư hữu chỉ có CNTB mới có.Thực tế đang chỉ ra rằng trong CHXH quanh hệ hàng hóa-tiền tệ vẫn tồn tại do nhu cầu xã hội hoá các quan hệ kinh tế.
     
Tuy tư tưởng đổi mới đã xuất hiện trong Nghị Quyết Trung ương 6(khoá IV) năm 1979 nhưng phải đến đại hội VI bước ngoặt về quan điểm đổi mới được khẳng định:nước ta có thể tiến lên CNXH bỏ qua giai đoạn phát triển TBCN nhưng phải đi qua con đường phát triển kinh tế hàng hoá.XHCN thông qua con đường phát triển kinh tế hàng hoá thì đương nhiên sớm hay muộn phải đi đến kinh tế nhiều thành phần.Thực tế cho thấy yêu cầu phát triển của lực lượng sản xuất nước ta rất phong phú.Mỗi lực lượng sản xuất nhất định đòi hỏi một quan hệ sản xuất tương ứng của mình chứ không phải là một quan hệ sản xuất chung.
     
Hội nghị Trung ương lần thứ 6(khoá VI) đã khẳng định tính chất nhiều thành phần trong sản xuất hàng hóa ở nước ta.Mỗi thành phần kinh tế được quy định bởi mỗi hình thức sở hữu tư liệu sản xuất.Vì vậy đa dạng hoá các hình thức sở hữu vừa là nguyên nhân vừa là kết quả của nhiều thành phần kinh tế.Nhờ đó sự giải phóng lực lượng sản xuất do các chính sách kinh tế mang lại nên mâu thuẫn gay gắt giữa quan hệ sản xuầt và lực lượng sản xuất bước đầu được giải quyết. Đó cũng là nguyên nhân quan trọng nhất dẫn đến sự phát triển kinh tế trong quá trình đổi mới.
     
Khi chuyển sang kinh tế hàng hoá thì sự phát triển nền kinh tế quôc dân phải thông qua cơ chế thị trường.Trong đó chủ sở hữu sản xuất kinh doanh và người lao động đều coi trọng lợi ích kinh tế của mình như mục đích trực tiếp.Cũng nhờ thực hiện mục đích đó mà nền kinh tế hàng hoá vận hành theo cơ chế thị trường có động lực thúc đẩy.
     
Trên thế giới cho đến nay đã từng có nhiều loại cơ chế quản lý kinh tế tồn tại. Đó là cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hoá tập trung cơ chế thị trường tự do và cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước.Cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung và cơ chế thị trường tự do đều đã từng gây ra khủng hoảng bế tắc cho nền kinh tế. Đảng và Chình phủ ta chủ trương theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN trong đó các thành phần kinh tế cùng tồn tại phát triển và cạnh tranh với nhau và kinh tế quốc doanh phải vươn lên địa vị chủ đạo.Hiện nay kinh tế quốc doanh đóng góp hơn 60% nguồn thu ngân sách Nhà nước.Mấy năm qua tỷ trọng của kinh tế quốc doanh chiếm trong GDP tăng theo từng năm : năm 1990:34% và năm 1992 :39 9%.
     
Kinh tế thị trường có thể đưa lại tăng trưởng kinh tế nhanh nhưng nó vốn có khuyết điểm đã tác động xấu trước hết về mặt xã hội. Đó là người sản xuất theo đuổi lợi nhuận nên thường vi phạm lợi ích chung và sự phân hoá giàu nghèo trở nên gay gắt.Một số người giàu lên và ngựoc lại một bộ phận nghèo khó.
     
Nên kinh tế nước ta đang vận hành theo cơ chế thị trường và được xác định theo định hướng XHCN nhưng định hướng đó thể hiện trong thực tế còn nhiều lúng túng.Vì vậy có một số người cho rằng đã là nền kinh tế thị trường thì CNXH cũng như CNTB.Thật ra ở tất cả các nước đều có vai trò quản lý kinh tế của nhà nước.Ở tầm vĩ mô các Nhà nước tư bản đều dùng hệ thống đòn bẩy để điều tiết theo quy hoạch tổng thể của nền kinh tế đảm bảo tạo môi trường cho kinh tế thị trường phát triển.Sự khác biệt giữa CHXN và CNTB là mối quan hệ giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội phúc lợi cộng đồng bảo vệ môi sinh điều kiện lao động của công nhân gắn liền với tăng trưởng kinh tế.
     
Chính sách kinh tế nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước đang đi vào tất cả các ngành các lĩnh vực kinh tế.Nhà sản xuất hướng tới thị trường sản phẩm được thị trương kiểm nghiệm.Nhớ đó đã xoá bớt sự bất hợp lí trong sản xuất lưu thông.Thực tế mấy năm qua nhờ thực hiện chính sách kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường mà sức sản xuất được giải phóng mạnh mẽ công phá vào nên sản xuất tự cung tư cấp mở đường tiền lên sản xuất hàng hoá.Nền kinh tế nước ta mấy năm qua đã bắt đầu tăng trưởng khá.So với mục tiêu 5 năm(1991-1995) bốn năm
1991 1992 1993 1994 tổng sản phẩm trong nước (GDP) đã đạt bình quân 8 05%(mục tiêu là 5 5-6%).Giá trị tổng sản lượng công nghiệp bình quân tăng 13 2%(mục tieu 8-10%).Giá trị tổng sản lượng nông nghiệp bình quân đạt 5.4%(mục tiêu 3 7-4 3%). Kim ngạch xuất khẩu tăng trên 20% tổng mức đầu tư tăng trên 30% (1)
     
Đóng góp vào kết quả to lớn đó trước hết cần kể tới kinh tế quốc doanh.Trước đây Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều nghị quyết trong đó có nghị quyết 306 của Bộ Chính trị và tiếp theo là Nghị Quýêt 217 của Hội đồng bộ trưởng nhằm mở rộng quyền tự chủ kinh doanh cho các đơn vị quôc doanh.Nhò đó.một số đơn vị kinh tế quôc doanh đã vươn lên nắm bắt thị trường mở rộng sản xuất gắn sản xuất với thị trường cải tiến quy trình công nghệ nâng cao chất lượng sản phẩm đứng được trong cạnh tranh.Một số hàng hoá tiêu dung khai thác và bước đầu gia nhập được vào thị trương quốc tế có mức tăng trưởng cao như da giày 51 2% sành sứ thuỷ tinh 40 1% sữa 45 5% may mặc 35 7%v.v...trong năm 1993 (2)
     
Kinh tế quốc doanh cũng phát triển mạnh trong nhiều lĩnh vực bước đầu khai thác được các tiềm năng trong nhân dân.mở mang ngành nghề thu hút lao động tăng thêm thu nhâp cho người lao động.Kinh tế tư nhân kinh tế hợp tác cá thể tiểu chủ tư bản tư nhân lien doanh với nước ngoài đang khẳng định vai tò quan trọng tích  cực và lâu dài đang phát triển ộng.Một mặt các khu vực kinh tế này đang cần có môi trường pháp lý thuận lợi để tiếp tục phát triển.Mặt khác lại đòi hỏi phải tăng cưòng quản lý Nhà nước để ngăn chặn hạn chế những tiêu cực của cơ chế thị trường.
     
Nhờ có chính sách kinh tế nhiều thành phần lực lượng lao động to lớn được thu hút.Hiện nay cả nước có hơn 370 nghìn hộ sản xuất tiểu thủ công nghiệp và gần 4000 hợp tác xã về vận tải có 400 xí nghiệp  hoặc tổ hợp 16000 hợp tác xã cà 100 nghìn hộ kinh doanh vận tải 1600 hợp tác xã mua bán và hơn 1 triệu hộ kinh doanh dịch vụ thương mại (3)  Từ phát triển kinh tế nhiều thành phần mà các hình thức xã hội hoá ra đời chuyển những hình thức kinh tế tư nhân cá thể ...lên hình thức cao hơn.
     
Kinh tế nhiều thành phần phát triển đã huy động các nguồn vốn đầu tư của toàn xã hội.Kinh nghiệm các nước kinh tế phát triển cho thấy đây là nguồn vốn quan trọng nhất để phát triển kinh tế.Trong 3 năm 1991-1993 ước tính các nguồn vốn đầu tư cho toàn xã hội  đạt 6.250 triệu USD bằng 16% nhu cầu vồn để thực  hiện nhu cầu chiến lược (4) Lạm phát đã bị đẩy lùi từng bước ổn định tình hình tài chính tiền tệ tạo điều kiện môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội trong điều kiện chuyển đổi cơ chế quản lý tuy nguồn vốn bên ngoài bị cắt đứt đột ngột.
     
Bộ mặt xã hội nước ta từ thành thị đến nông thôn đang thay đổi nhanh chóng.Một không khí làm ăn nhộn nhịp khẩn trương bao trùm lên tất cả các ngành lĩnh vực kinh tế.Thắng lợi to lớn nhất của quá trình chuyển đổi kinh tế nước ta là nên kinh tế bước đầu ra khỏi khủng hoảng.Chính sách kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước đóng góp phần quan trọng vào thắng lợi đó.Trong những năm tiếp theo để nền kinh tế nước ta phát triển hơn nữa các thành phần kinh tế cần hướng tới công nghiệp hoá hiện đại hoá.Do đó cần huy động nhiều vốn cần tiết kiệm trong sản xuất tiêu dung để mở rộng sản xuất kinh doanh.

4.Chính sách kinh tế mở cửa.
     
Từ năm 1986 trở về trước nền kinh tế nước ta nhìn chung là một nền kinh tế khép kín.Kinh tế đối ngoại được quan tâm nhưng chỉ là nhập khẩu trang thiết bị kỹ thuật phục vụ cho sự phát triển kinh tế nội địa.Xuất khẩu không được quan tâm và vì thế những thế mạnh kinh tế cuả đất nước của từng vùng từng ngành không được khai thác sức mạnh kinh tế dân tộc đã không phát huy được để kết hợp với sức mạnh kinh tế quốc tế.Nền kinh tế tự cung tự cấp chẳng những không bị phá vỡ mà chừng mực nào đó được tô đậm hơn do không phát triển được kinh tế hàng hoá.Kinh tế và xã hội đất nước chậm phát triển.
     
Nền kinh tế khép kín đã để lại hậu quả nặng nề chẳng những không hoà nhập được với nền kinh tế thế giới mà còn bị bỏ xa mức tụt hậu kinh tế ngày càng tăng.Nền kinh tế không có tích luỹ đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không được cải thiện.
     
Khi các con rồng Châu Á bay lên đã buộc các nhà nghiên cứu lãnh đạo quản lý ở nhứng nước có nền kinh tế khép kín phải suy nghĩ lại.Vấn đề trước hết là phải đi theo chiến lược kinh tế hướng ngoại chấp nhận sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường thế giới trong quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá.Chỉ có như vậy mới có thể phát huy được thế mạnh của dân tộc tạo khả năng rút ngắn khoảng cách phát triển so với các nước đi trứớc.
     
Ngày nay trong điều kiện quốc tế  hoá kinh tế và các mặt đời sống nhanh chóng chúng ta cấn sớm nhìn nhận xu thế nói trên.Vấn đề quan trọng nhất là xác định rõ mục tiêu phát triển kinh tế hướng ngoại là để phát triển kinh tế trong nước giải quyết tốt hơn đời sống nhân dân xây dựng một nền kinh tế mở cả trong và ngoài nước vấn đề giữ vững độc lập tự chủ phải được rất coi trọng. Điều này cho thấy vai trò quản lý của Nhà nước cũng như kết hợp tăng trưởng kinh tế với quốc phòng an ninh vững mạnh phải được tăng cường.Thực hiện chiến lược kinh tế hướng ngoại tức là đẩy mạnh xuất khẩu trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh để chiểm lĩnh thị trường thế giới đồng thời với việc thay thế nhập khẩu bằng những sản phẩm trong nước.Với chiến lược này sản xuất trong nước được bảo hộ phát triển.
     
Trong quá trình chuyển đổi kinh tế kinh tế hướng về xuất khẩu đã được coi trọng.Với chính sách kinh tế mở Nhà nước khuyến khích tất cả mọi thành phần kinh tế hoạt động xuất nhập khẩu sản xuất hướng tới thị trường hướng tới thị trường quốc tế đã tạo ra những động lực mới tác động vào sản xuất.Nhờ đó nhiều tiềm năng thế mạnh của nền nông nghiệp nhiệt đới đang được khơi dậy.So với năm 1992 một số mặt hang xuất khẩu tăng như cà phê: 25% chè 30% hàng thuỷ sản 22%...Ngành nghế thủ công truyền thống như khảm trai thêu ren may mặc đang được khôi phục và phát triển bắt đầu có mặt trên thị trường thế giới.
     
Vấn đề nan giải trong giai đoạn phát triển ban đầu là thiếu hụt vốn đầu tư lực lượng lao động dư thừa ngày càng lớn.Vì vậy con đường hợp tác với bên ngoài là hết sức quan trọng.Nhưng điều đó đòi hỏi những điều kiện bên trong(về lãnh đạo quản lý bộ máy và cán bộ vốn...)để sử dụng nguồn vốn bên ngoài chuyển giao công nghệ đào tạo cán bộ... có hiệu quả cao.
     
Trong nhưng năm qua vận dụng chính sách kinh tế mở kim nghạch xuất khẩu và nhập khẩu đều đã tăng lên.Nếu như năm 1991 kim ngạch xuất khẩu đạt 2 08 tỷ USD thì đến năm 1993 ước tính xuất khẩu đạt 3 tỷ USD và nhập khẩu đạt 2 505 tỷ USD (5) Thị trường xuất khẩu luôn luôn được mở rộng theo quá trình đổi mới cơ chế quản lý kinh tế.
     
Trong chính sách kinh tế mở nếu như nhiều địa phương ngành kinh tế nước ta luôn hướng ra cũng là một thị trường hấp dẫn của các nước trên thế giới.Nhờ có luật đầu tư với lực lượng lao động dồi dào giá rẻ đất nước có nhiều tài nguyên nên hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài vào nước ta nhiều hơn.Trong thời gian 1988-1994 nước ta đã cấp phép hoạt động cho 1200 dự án với tổng số vốn đầu tư đăng kí vào khoảng 11tỷ USD(trong đó 1/3 số vốn đã được thực hiện). Điều đáng chú ý là tốc độ đầu tư trong những năm qua cũng tăng nhanh.Nếu như từ 1988 đến hết năm 1992 tóc độ tăng đầu tư nước ngoài hang năm là 51 6% thì năm 1993 đã tăng lên 43% so  với 1992 và năm 1994 tăng 26% so với năm 1993.Quy mô vốn đầu tư cũng tăng tương ứng.Nếu như năm 1988 đạt 366 triệu USD thì năm 1994 con số này đạt tới 3500 triệu USD( tăng gần 10 lần)(6)
     
Nước ta đã mở rộng quan hệ thương mại với trên 100 nước  và lãnh thổ thê giới.Năm 1986 kim ngạch xuất khẩu chỉ bằng 36% nhập khẩu.Nhưng trong 4 năm(1991-1994) tỷ lệ này nâng lên đạt 91% (7)
     
Ngoài ra nguồn vốn viện trợ phát triển(ODA) từ các tổ chức quốc tế vào nước ta cũng ngày một nhiều hơn.Tính riêng năm 1993 nguồn vốn này đạt 350 triệu USD.Trong đó có 139 triệu USD không hoàn lại.
     
Với một đât nước nghèo trong bước phát triển ban đầu khối lượng vốn thu hút được thong qua các dự án đầu tư rất quan trọng.Vấn đề đặt ra là sử dụng nguồn vốn đó như thế nào cho có hiều quả trứơc mắt lẫn lâu dài.Có như vậy mới khai thác được các nguồn lực trong nước giải quyết vấn đề lao động và việc làm.Nâng cao trình độ công nghệ nhăm tăng cường khả năng cạnh tranh của hàng hoá trên thị trường quốc tế.Lợi dụng nguồn vốn bên ngoài phát triển kinh tế bên trong rút ngắn khoảng cách khắc phục tụt hậu.Nhưng quan trọng nhất của một nền kinh tế lành mạnh là phải tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế làm chính và sử dụng vốn nước ngoài hợp lý có hiệu quả cao.
     
Những năm qua các dự án đầu tư nước ngoài nói chung là phù hợp với nhu cầu và cơ cầu kinh tế của đất nước ta. Đầu tư vào các ngành công nghiệp dầu khí nông-lâm-ngư nghiệp giao thong vận tải bưu điện...chiếm khoảng 7% số dự án(riêng công nghiệp chiếm 5% số vốn đăng ký).Từ năm 1988-1994 70% vốn đầu tư dành cho các nghành sản xuất vật chất 30% dành cho hoạt động dịch vụ;60% dự án dành cho đầu tư chiều sâu nhằm cải tạo nâng cấp trang thiết bị.Hình thức đầu tư kinh tế thể hiện:71% số dự án thuộc liên doanh 17%  dự án thuộc xí nghiệp 100% vốn nước ngoài 12% thuộc dự án hợp đồng hợp tác kinh doanh.Hơn 98% đối tác chính của kinh tế nước ta  với nứơc ngoài là các doanh nghiệp Nhà nước.Số dự án ở các tỉnh phía Bắc chiếm 35% và 45% vốn đâu tư.Các vùng kinh tế trọng điểm quôc gia như TP Hồ Chí Minh Hà Nội Đồng Nai Hải Phòng Quảng Ninh Bà Rịa-Vũng Tàu Đà Nẵng và Huế là nhứng nơi thu hút vong đâu tư nước ngoài chiếm 84% tổng số vốn đâu tư của cả nước (8)
     
Chính sách kinh tế mở đã mang lại kết quả kinh tế quan trọng.Một là giá trị hang hóa giá trị xuất khẩu thu ngân sách nhờ đó tăng lên.Chỉ tính riêng năm 1992 các doanh nghiệp đẩu tư nước ngoài đã tạo ra 550 triệu USD giá trị hang hoá dịch vụ.Ngân sách nhà nước thu được khoảng 200 tỷ đồng và 150 nghìn USD (9) Hai là nhờ có vốn đầu tư nước ngoài đã phát triển được các lĩnh vực sử dụng nhiều lao động như sản xuất hàng tiêu dùng chế biến thực phẩm xuất khẩu kinh doanh khách sạn và du lịch cũng như khai thác thăm dò dầu khí.Nhờ đó  đã giải quyết được 80.000 người lao động trực tiếp và khoảng 10 vạn lao động không thường xuyên qua các khâu dịch vụ.Kết quả này hết sức quan trọng trong điều kiện hiện nay không chỉ là kinh tế mà còn giải quyết các vấn đề xã hội góp phần ổn định chính trị để đẩy mạnh cải cách  kinh tế.Bởi vì cải cách kinh tế thu hút vốn đầu tư nước ngoài chỉ có thể thành công trong điều kiện chính trị ổn định.Ba là đã tiếp nhận một số thành tựu kỹ thuật công nghệ tiên tiến của thế giới tỏng một số ngành nghề kinh tế như thông tin viễn thông thăm dò khai thác dầu khí sản xuất và lắp ráp ôtô xe máy hoá chất phương tiện công nghệ sinh học tiên tiền như nuôi tôm nước lợ...trong nông nghiệp.Bốn là đã tiếp nhận một số phương pháp quản lý tiến bộ kinh nghiệm tổ chức sản xuất của một số nước tiên tiến trên thế giới...
     
Tuy nhiên trong 7 năm thực hiện luật đầu tư nước ngoài ở nước ta còn có nhiều nhược điểm hạn chế.Vì vây nó hạn chết hoạt động đầu tư nước ngoài vào nước ta.Một là thủ tục đầu tư vẫn rất rườm rà phức tạp phăi qua nhiều cửa phải có nhiều loại giấy phép mới thực hiện được.Từ đó gây phiền hà nhiều khe hở phát sinh tiêu cực.Hai là đội ngũ cán bộ tham liên doanh lien kết chưa được  chuẩn bị đào tạo đầy đủ vừa thiếu vế số lượng vừa yếu về chất lượng đặc biệt năng lực quản lý tổ chức sản xuất kinh doanh.Thiều phương tiện hoạt động như ngoại ngữ hiểu biết tập quán quốc tế quốc gia liên quan.Ba là kết cấu hạ tầng của ta còn rất yếu kém luật pháp chính sách của ta thiếu đồng bộ hoàn chỉnh còn nhiều tuỳ tiện giản đơn...
     
Nhìn tổng quát chính sách kinh tế mở trong thời gian qua tuy đạt nhiều thành tựu nhưng còn hạn chế và chậm trễ so với thực tiễn phát triển nhanh chóng.Thực tế đó còn đang đòi hỏi một bước chuyển dịch cơ cấu công nghiệp hoá và hiện đai hoá đặt các công ty xí nghiệp đúng vị trí trong thị trường đặc biệt đòi hỏi nâng cấp trình độ quản lý kinh tế vĩ mô và quản lý Nhà nước.

Ghi chú: (1) Tạp chí Phát triển kinh tế số đặc san Xuân 1995 tr.2

(2) Báo Nhân dân ngày 10-12-1993

(3) Báo nhân Dân 13-12-1993

(4)Báo Nhân Dân ngày 13-12-1993

(5)Báo Nhân Dân ngày 22-12-1993

(6)Tạp chí Kinh tế phát triển số đặc san Xuân 1995 tr.3

(7)Tc đã dẫn tr.2

(8) Kinh tế phát triển số đặc san Xuân 1995 tr2 và Báo Nhân Dân ngày 17-12-1993

(9) Báo Nhân Dân ngày 17-12-1993


Bài đã in trong sách Bình luận khoa học hiến pháp nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 Nxb KHXH 1995

More...

Bình luận khoa học hiến pháp nước CHXHCNVN năm 1992 - Chế độ kinh tế - TS VƯƠNG CƯỜNG

By VƯƠNG CƯỜNG

 

CHÍNH SÁCH KINH TẾ CỦA QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI KINH TẾ Ở NƯỚC TA


TS VƯƠNG CƯỜNG


     
Hiến pháp năm 1980 ra đời trong điều kiện kinh tế bao cấp và khủng hoảng kinh tế đang xảy ra nghiêm trọng ý tưởng đổi mới kinhh tế của Đảng đang hình thành. Hiến pháp năm 1992 ra đời trong điều kiện cơ chế quản lý kinh tế đã thay đổi. Nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần dựa theo cơ chế  thị trường có sự quản lý của nhà nước đã bước đầu đưa nền kinh tế nước ta ra dần khỏi khủng hoảng. Toàn bộ sự biến đổi kinh tế đó đã được thể hiện trong chế độ kinh tế của Hiền pháp năm 1992 với 15 điều có 8 điểm mới bổ sung và 7 điều được sửa đổi nội dung cơ bản.
     
Thực chất của bước chuyển đổi kinh tế đó là cuộc cải cách cấu trúc lại nền kinh tế bắt đầu từ sở hữu. Những chính sách kinh tế của Đảng và Nhà nước đã vạch hướng cho nền kinh tế vận động. Những kết quả to lớn do chính sách kinhh tế mang lại đã chứng minh Đảng ta ngày càng tiếp cận quy luật khách quan.
 
1.Những quyết sách quan trọng đột phá về nông nghiệp mở đầu quá trình cấu trúc lại nền kinh tế.
     
Những năm 1979-1980 kinh tế nước ta đã lâm vào tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng. Hội nghị Ban chấp hành Trung ương đảng lần thứ 6(khoáVI) đã nhận định "Thắng lợi của cách mạng nước ta thật là to lớn đồng thời những khó khăn ta đã vượt qua cũng rất to lớn. Điều đặc biệt quan trọng là người lao động thiếu hăng hái sản xuất".
     
Trước tình hình đó Đảng ta đã chủ trương chuyển dần sang cơ chế sản xuất hàng hoá với nhiều giải pháp: bước đầu thừa nhận kinh tế hộ với nhiều thành phần; cho các hộ xã viên mượn đất nhằm khăc phục tình trạng bỏ hoang; ổn định thu mua lương thực điều chỉnh giá mua nông sản; thực hiện mua theo gía thoả thuận; bãi bỏ việc phân phối định suất; hạn chế mức lập quỹ tập thể nhăm tăng thu nhập cho xã viên thừa nhận kinh tế gia đình là một bộ phận hợp thành của nền kinh tế XHCN.
     
Với chủ trương khoán đến nhóm và người lao động tháng 1-1981 hộ gia đình nông dân trồng lúa được tự chủ 3 khâu trong quá trình san xuất nông nghiệp :gieo mạ cấy trồng chăm bón và thu hoạch. HTX đảm nhiệm 5 khâu: làm đất thuỷ lợi bảo vệ thực vật giống và phân hoá học. Quyền chi phối tái sản xuất đất vẫn thuộc về Ban quản lý HTX. Tuy vậy so với thời kỳ 1976-1980 năng suất lao động đã tăng 23 8% sản lượng lương thực tăng 27% diện tích cây công nghiệp tăng 62 1% đàn bò tăng 33% đàn lợn tăng 22 1%. Bình quân lương thực đầu người năm sau cao hơn năm trứơc(1981:273kg 1985 304kg) (1)
     
Tuy nhiên Chỉ thị 100 của ban bí thư về khoán đến nhóm và người lao động vẫn còn nhiều hạn chế do cơ chế tập trung quan liêu bao cấp chưa được thao gỡ cơ chế quản lý nội bộ HTX và nhất là vai trò kinh tế hộ gia đình chưa được khẳng định. Việc kéo dài bộ máy quản lý cồng kềnh mức khoàn không ổn định đã triệt tiêu dần động lực kinh tế vừa được khơi dây. Kết quả là HTX lại đưng trước nguy cơ mới. Sản lượng lương thực năm 1987 giảm gần một triệu tấn mức nhà nước huy động cũng giảm gần 40 vạn tấn nạn đói xảy ra ở một số vùng liền 2 năm 1987-1988.(2)
     
Từ một nước nông nghiệp lạc hậu đi lên sản xuất hang hoá lớn Đảng ta đã nhận thức đùng vấn đề đời sốngcủa nhân dân không thể dựa vào bên ngoài. Hơn nữa có phát triển kinh tế nông nghiệp mới tạo cơ sở cho nền kinh tế phát triển ổn định xã hội đảm bảo nền độc lập và tự chủ. Không có sự phát triển toàn diện của nông nghiệp thì không có sự ổn định và bước tiền toàn bộ nền kinh tế. Nhận thức được vai trò to lớn đó cuả nông nghiệp Đảng và nhà nước ta đã xem xét kỹ hai vần đề cơ bản đang đặt ra để đẩy mạnh nông nghiệp phát triển. Một là:phải đảm bảo lợi ích kinh tế nông dân thì sản xuất nông nghiệp mới có động lực. Hai là: vai  trò kinh tế hộ gia đình trong sản xuất nông nghiệp cũng như mồi quan hệ giữa kinh tế hộ gia đình và HTX phải được xác lập đúng.
     
Đáp ứng yêu cầu đó và khắc phục những hạn chế của Chỉ thị 100 tháng 4 năm 1988. Bộ chính trị (khoá VI) đã ra nghị quyết 10 và sau đó Hội nghị BCH Trung ương đảng lần thứ 6(khoá VI) đã ra nghị quyết với những chủ trương đúng đắn kịp thời. Nội dung chủ yếu của các nghị quyết đó nhằm tiếp tục giải phóng sức sản xuất chuyển nền nông nghiệp còn đang tự cấp tự túc ở nhiều vùng sang sản xuầt hàng hoá nhiều thành phần. Thực hiện điều chỉnh một số bước quan trọng về sở hữu tư liệu sản xuất giao khoán ổn định lâu dài ruộng đất đến hộ gia đình nông dân hoá giá các tư liệu sản xuất khác và cơ sở vật chất kỹ thuật cuả HTX trước đây mà tập thể quản lý kém hiệu quả. Khuyền khích nông dan mua sắm công cụ sản xuất và trâu bò cày kéo. Đặc biệt đã khẳng định vai trò tự chủ cuả hộ gia đình. Thực hiện cơ chế phân phối theo lao động và xoá bỏ chế độ theo công điểm và hiện vật. Xã viên chỉ còn một nghĩa vụ nộp thúê cho Nhà nước và thực hiện các nghĩa vụ hợp đồng sản phẩm cong lại được tự do lưu thông và bán nơi nào có lợi nhất. Thực hiên chủ trương thương mại hoá vật tư. Khuyến khích sản xuất và làm giàu chính đáng. Ngoài ra còn thừa nhận sự tồn tại và khuyến khích phát triển kinh tế cá thể kinh tế tư nhân. Nhà nước bảo hộ quyền lợi chính đáng và được bình đẳng trước pháp luật.
     
Nhờ những chủ trương đó đã hình thành động lực kinh tế mới thúc đẩy phát triển sản xuất. Lợi ích kinh tế nông dân đã được coi trọng. Bước đầu giải quyết 3 mối quan hệ lợi ích: Nhà nước tập thể và người lao động. Trong đó lợi ích kinh tế nguời lao động được khuyến khích ưu tiên. Nhờ đó nông dân đã gắn bó hơn với đồng ruộng đã đầu tư công sức kỹ thuật và trí tuệ vào ruộng khoán. Cuộc điều tra XHH ở tỉnh Hải Hưng năm 1990 cho thấy 97 4% nông dân được hỏi muôn giữ nguyên hoặc được nhân thêm ruông khoán. Trong đó muốn giữ nguyên là 52 3% và muốn nhận thêm là 45 03%.(3)
     
Nếu như khoán 100 mới mang lại cái sôi nổi ban đàu của động lực kinh tế thì khoán 10 đã khẳng định được động lực. Bởi vì Đảng và Nhà nứơc đã bắt đầu giải quyết đúng đắn mối quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất về ruộng đất cũng như công cụ khác. Nông dân đã yên tâm đầu tư vốn lao động thực hiên thâm canh tăng năng suất cay trồng vật nuôi. Quá trình sản xuất của nông dân là quá trình tự chủ. Tốc độ thu nhập bình quân hàng năm cua nông dân tứ năm 1987 trở về trước là 1 18%.Hai năm 1988 1989 tôc độ đó đã tăng lên 4 5%. Hộ nông dân có thu nhập thấp (dưới 20kg gạo/tháng) nhưng năm 1976-1980 chiếm 20% đến năm 1989 đã giảm xuống 9 44%. Hộ có bình quân đầu người /tháng đạt 41kg trở lên từ 21 3% năm 1987 đã tăng lên 44 9% năm 1989. Sản lượng lương thực đã tăng lên theo từng năm(1988:19 583triệu tấn   1989:21 439 triệu tấn và 1993: 24 5 triệu tấn (4) 1994: 26 triệu tấn). Nhờ đó nước ta đã giải quyết được vấn đề ăn có dự trữ và xuất khẩu hàng năm  1 5 đến 2 triệu tấn gạo trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ 3 trên thề giới.
     
Việc sử dụng và khai thác ruông đất từ khi có nghị quyết 19 đã được nông dân coi trọng. Đất canh tác chẳng những được bảo vệ mà còn sử dụng tiết kiệm. Đất hoang hoá bãi bồi.thung đào...được sử dụng triệt để. Kết quả điều tra cho thấy trong vòng 3 năm (1988-1990) diên tích gieo trồng đã tăng 3 9%. Diện tích khai hoang đạt 257.000 ha.
     
Việc nông dân làm chủ quá trình sản xuất nông nghiệp do quyến sử dụng lâu dài ruộng đất được chuyển nhượng thừa kế cho thuê và chuỷên đổi quyền sử dụng cung với việc thừa nhận kinh tế hộ gia đình. Động lực kinh tế mang tính chất trực tiếp do lợi ích kinh tế của nông dân được thực hiên thông qua kinh tế  hàng hoá khi họ chính là chủ thể sản xuất kinh doanh. Nhò đó sức sản xuất nông nghiệp được giải phóng. Khai thác được những tiềm năng đất đai lao động và vốn của nông dân sản xuất nông nghiệp đã hướng ra thị trường. Sự ổn định và phát triển của toàn bộ nền kinh tế.
     
Cơ cấu lao động nông nghiệp vẫn chiếm tỷ lệ cao từ 70-80%. Tuy nông nghiệp đổi mơi có nhiều thành tựu song cơ cấu kinh tế nông nghiệp vẫn chuyển dịch chậm tiềm năng nông nghiệp chưa khai thác còn lớn. Nguyên nhân do yếu kém của cơ sở vật chất và kêt cấu hạ tầng cũng như thị trường nông thôn còn chưa phát triển. Giao lưu kinh kế vẫn còn ách tắc. Đặc biệt giá nông sản quá hạ làm giảm lợi ích kinh tế nông dân gay hậu quả xấu với sản xuất.
     
Để nông nghiệp tiếp tục phát triển làm cơ sở phát triển toàn bộ nền kinh tế cần phải đặt sự phát triển của nông nghiệp nông nghiệp nông thôn theo sản xuất hàng hoá hướng tới quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá. Đó là nhiệm vụ chiến lược cho nhưng năm tiếp theo. Thực hiện nguyên tăc nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần gắn sản xuất với thị trường. Mở rộng thị trường trong và ngoài nước giải quyết được thị trường tiêu thụ hàng hoá nông sản và dịch vụ đầu vào tốt thì ở đó nông nghiệp phát triển và thu nhập của nông dân đạt kết quả cao.
     
Thực tế còn cho thấy muồn phát triển sản xuất nông nghiệp còn cần gắn liền phái triển kinh tế với văn hoá xã hội. Hiện tượng học sinh nông thôn bỏ học khá phổ biến hiện nay và tình trạng phân hoá giàu nghéo cũng xảy ra mạnh mẽ. Tỷ lệ giàu nghéo trong cơ chế bao cấp chỉ1 5 đến 2 lần. Tỷ lệ đó hiện nay đã là 40 đến 100 lần.Mặc dù số hộ nghéo đói đã được giảm xuống năm 1990 có 34 4 đến năm 1992 chỉ còn 19 6%. Tuy vậy giải quyết hộ nghèo đói đang được đặt ra cấp bách cho các địa phương. Để vực hộ nghèo đói đứng dậy cần: Mội là giải quyết vốn sản xuất. Muồn vậy chính sách tín dụng nông nghiệp cho nông dân vay vốn cần phát triển mạnh mẽ để đáp ứng hơn 50% số hộ nông dân vay (ước khoảng 5 ngàn tỷ đồng cho đến năm 1994-1995). Hai là giúp đỡ bồi dưỡng hộ nghèo đói biết lamg giàu trên cả 2 phương diện:kinh tế kỹ thuật và kinh tế xã hội. Muốn vậy cần phát triển các tổ chức khuyển nông(như tỉnh An giang trong những năm vừa qua đã thành công trong việc sử dụng tổ chức này). Ba là phát trỉên mạnh mẽ nghành nghề phi nông nghiệp như công nghiệp chế biến công nghiệp nông thôn thủ công truyền thống sửa chữa nhỏ...Phát triển ngành nghề này sẽ mang đến 2 điều lợi sau đây:thứ nhất giài quyết dần số lao động dư thừa. Thứ 2 giá trị sản xuất hàng hoá tăng lên thêm nguồn thu nhập cho nông dân. Nhưng còn cần giao ruộng đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ổn định lâu dài cho hộ nông dân để họ yên tâm đầu tư sản xuất thực hiện thâm canh và chủ động chuỷên dịch cơ cấu nông nghiệp.

2.Chính sách kinh tế đối với doanh nghiệp nhà nước
     
Từ cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp chuyển sang sản xuất kinh doanh theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN là một thử thách to lớn đối với kinh tế quốc doanh. Đó là quá trình xác lập quyền tự chủ sản xuất kinh doanh của xí nghiệp nhằm phát huy mọi tiềm năng trên cơ sở giải phóng sức sản xuât. Thực tế hơn 10 năm qua chứng tỏ rằng quá trình đổi mới cơ chế quản lý kinh tế trong lĩnh vực kinh tế quốc doanh phải chú ý đến các tính chất đặc thù của nó. Khắc phục tình trạng vô chủ trong các xí nghiệp quốc doanh không mấy thuận lợi. Trong khi đó kinh tế quốc doanh phải là thành phần kinh tế chủ đạo trong nền kinh tế nhiều thành phần. Nhà nước nắm kinh tế quốc doanh như một công cụ quan trọng nhất để điều tiết định hướng nền kinh tế.
     
Ngay từ Nghị quyết Trung ương lần thứ 6(khoá IV) năm 1979 Đảng ta đã có chủ trương xác lập vai trò và quyền tự chủ kinh doanh các XNQD khuyến khích lợi ích kinh tế của người lao động. Cùng với những giải pháp chung cho nền kinh tế đang khủng hoảng nghiêm trọng những chủ trương naỳ đã bước đầu khơi dậy được động lực sản xuất kinh tế quốc doanh như bừng tỉnh và chủ động tìm kiếm con đường làm ăn mới có hiệu quả hơn.
     
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V và các văn bản của Chính phủ đã xác định mở rông quyền chủ động sáng tạo xác lập quyền tự chủ cho các đơn vị sản xuất kinh doanh; lấy đơn vị cơ sở làm trung tâm của quá trình cải tiến quản lý. Từ năm 1987 trở đi cơ chế quản lý kinh tế được đổi mới đảm bảo cho các xí nghiệp kinh tế quốc doanh có quyền thực sự chuyến sang hạch toán kinh doanh. Quan điểm này hết sức quan trọng và được cụ thể một bước trong Hội nghị Trung ương 3 (khoá VI năm 1989): trong khi các xí nghiệp quốc doanh chuyển sang hoạt động tự chủ hạch toán kinh doanh đồng thời đổi mới cơ chế quản lý Nhà nước về kinh tế đảm bảo quyền tự chủ cho các đơn vị cơ sở. Quyết định 217-HĐBT ngày 14-11-1987 ban hành các chính sách đổi mới kế hoạch hoá và hách toán kinh doanh XHCN đối với XN quốc doanh và quyết định ban hành những quy định bổ sung QĐ 217-HĐBT ngày 14/11/1987 cuả HĐBT ngày 2/12/1989 đã đánh dấu một  bước ngoặt quan trọng đối với các XNQD từ cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế hạch toán kinh doanh XHCN trên cơ sở được tự chủ sản xuất kinh doanh góp phần tháo gỡ những khó khăn thúc đẩy sản xuất phát triển.
     
Quyết định 217-HĐBT đi vào thực tế các đơn vị kinh tế quốc doanh đã tạo ra động lực nhất định do đơn vị kinh tế quốc doanh được tự chủ trên các lĩnh vực quản lý và sử dụng tài sản các nguồn vốn liên kết liên doanh kinh tế trong và ngoài nước. Tuy trên thị trường đã phải cạnh tranh gay gắt 30% xí nghiệp quốc doanh đã làm ăn có lãi. Đương nhiên động lực do QĐ 17-HĐBT đem lại bị triệt tiêu dần mà nguyên nhân quan trọng nhất vẫn là tư liệu sản xuất của Nhà nước thiếu người làm chủ thực sự và một  số giám đốc đã vượt quá quyền hạn lợi dụng làm giàu làm giảm lòng tin của công nhân. Vấn đề chính vẫn là người lao động phải làm chủ quá trình sản xuất sự kết hợp tư liệu sản xuất và sức lao động theo con đường ngắn nhất trực tiếp từ đó quyền hạn trách
nhiệm nghĩa vụ và lợi ích của người lao động được xác định. Trong nông nghiệp Đảng và nhà nước đã giải quyết thành công vấn đề làm chủ tư liệu sản xuất của người lao động do sơ hữu tư liệu  sản xuất nhà nước(ruộng đất) có thể phân chia thành quyền sử dụng và sở hữu để giao lại cho người nông dân quyền sử dụng và nhiều loại tư liệu sản xuất khác thành sở hữu độc lập nên nông nghiệp phát triển có dộng lực lợi ích kinh tế. Tình trạng người lao động thờ ơ với tư liệu sản xuất và sử dụng nó một cách lãng phí kém hiệu quả đã được chấm dứt. Còn trong các xí nghiệp quốc doanh việc xác định chủ sở hữu tư liệu sản xuất cụ thể đã từng đặt ra cấp bách. Luật doanh nghiệp nhà nước được ban hành đã khẳng định quá trình tìm tòi và thử nghiệm đó.
     
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII(1991) và chính phủ vẫn chỉ rõ tiếp tục xoá bỏ cơ chế quan liêu bao cấp hình thành đồng bộ và vận hành cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước tạo điều kiện môi trường cho các doanh nghiệp phát triển.
     
Tuy có nhiều cố gắng trong suốt hơn 10 năm qua kinh tế quốc doanh đã bắt đầu thích ứng với cơ chế mới đóng góp quan trọng vào việc giữ vững ổn định và phát triển kinh tế; nhưng nhìn chung kinh tế quốc doanh vẫn hoạt động kém hiệu quả. Sau quyết định 388/HĐBT tính đến cuối năm 1993 còn khoảng 6000 doanh nghiệp nhà nước. Trong đó chỉ có khoảng 200 đơn vị là đầu tư đúng hướng bám sát thị trường làm ăn có hiệu quả. Hiện vẫn còn hơn 30% số xí nghiệp làm ăn thua lỗ bị giải thể sát nhập chuyển sở hữu. Hiện có 0 5 triệu người lao động trong các xí nghiệp quốc doanh chưa có việc làm.
     
Doanh nghiệp quốc doanh không chỉ yếu kém trong cơ chế quản lý chứ xác định được chủ sở hữu đích thực mà còn do nhà nước chưa tạo được môi trường hành lang pháp lý cho các doanh nghiệp vận hành theo cơ chế mới.Mặt khác sự yếu kém về công nghệ tình trạng lạc hậu thiết bị thiếu vốn để hoạt động thiếu thị trường tiêu thụ...cũng làm cho các doanh nghiệp nhà nước không cạnh tranh được để phát triển sản xuất. Do đó các doanh nghiệp nhà nước trong quá trình cạnh đổi mới cơ chế chỉ thay đổi phương thức kinh doanh mà chưa xem xét vấn đề sở hữu. Tuy đạt được thành tích bước đầu nhưng chưa tạo được sự thay đổi căn bản về chất lượng. Những tiền đề để doanh nghiep Nhà nước có thể vượt ra khỏi khủng hoảng vẫn chưa được
xác lập.
     
Vấn đề quan trọng nhất để các doanh nghiệp Nhà nước phát triển là người lao động phải được đảm bảo lợi ích. Từ đó mới thực sự làm chủ xí nghiệp gắn trách nhiệm và quyền lợi của họ vào doanh nghiệp. Có như vậy
họ mới duy trì phát triển để nguồn lực sản xuất do gắn bó với xí nghiệp và quan tâm đền hiệu quả kinh tế xí nghiệp với tư cách là chủ một phần tài sản đó. Chừng nào người lao động còn yên tâm sản xuất cho mình thì chừng đó họ có thể đóng góp vào sản xuất. Huy động nguồn vốn trong dân cư để phát triển sản xuất mới là giải pháp cơ bản quan trọng nhất để phát triển kinh tế .Do đó việc cải tiển kỹ
thuật quản lý
chuyển đổi công nghệ sắp xếp lại để khẳng định vai trò chủ đạo của nền kinh tế quốc doanh trên thực tế mới được thực hiện.
     
Cố phần hoá các doanh nghiệp nhà nước hiện đang là giải pháp có nhiều hy vọng nhằm đổi mới doanh nghiệp Nhà nước. Nhưng một doanh nghiệp

nhà nước cố  phần hoá thành công phải có điều kiện cần và đủ. Điều kiện

 cần là doanh nghiệp đó có tiềm năng chịu được cạnh tranh mở rộng được thị trường trong và ngoài nước chuyển sang hạch toán thực sự... Điều kiện đủ là giàm đốc giỏi công nhân nhất trí đoàn kết và có khả năng mua được cổ phần. Do đó để có thể tiến tới cổ phần hoá thuận lợi các doanh nghiệp

trước hết phải làm ăn có lãi hoàn thiện cơ chế khoán đến các nhóm và người lao động cũng như tự hạch toán kinh doanh.
     
Cớ chế quản lý kinh tế phải được tiếp tục đổi mới tăng cường hiệu quả quản lý vỹ mô của nhà nước nhằm khắc phục những hoạt động tự phát tiêu cực và khiếm khuyết của cơ chế thị trường.Hoàn chỉnh hệ thông pháp luật các thành phần kinh tế đều được nhà nước quan tâm và bình đẳng phát triển để tạo nên sự cạnh tranh giữa các thành phần kinh tế cũng là một giải pháp quan trọng thúc đ y kinh tế quốc doanh phát triển.

( Còn nữa )

Ghi chú: (1)(2) Báo cáo tổng kết  HTX nông nghiệp 1958-1990 định hướng HTX nông nghiệp thời kỳ sau 1990. Ban NN TW tháng 9-1990 tr.22
(3) Kinh tế xã hội nông thôn- chính sách NXB ST H 1991 tr.46
(4) Kinh tế xã hội nông thôn Việt nam ngày nay NXB TTVH H1991 tr11 Và báo Nhân Dân 9-12-1993
( Bài đã in trong sách Bình luận khoa học hiến pháp nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 NXB KHXH - H 1995 )

More...

Đô thị hóa Thành phố Hồ Chí Minh góc nhìn lịch sử - TS VƯƠNG CƯỜNG

By VƯƠNG CƯỜNG


Đô thị hóa thành phố Hồ Chí Minh - Góc nhìn lịch sử
TS VƯƠNG CƯỜNG

 




More...

Đô thị hóa tác động hai mặt - TS VƯƠNG CƯỜNG

By VƯƠNG CƯỜNG


Đô thị hóa tác động hai mặt
TS VƯƠNG CƯỜNG

 ... Một đất nước muốn phát triển khi có điều kiện không thể không công nghiệp hoá hiện đại hoá. Nhờ nó làm cho năng suất chất lượng và khả năng cạnh tranh cao trong mỗi sản phẩm. Quá trình này giúp cho sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ lạc hậu sang tiến bộ. Hay nói cách khác chuyển một nước nông nghiệp lạc hậu sang công nghiệp ...





More...

Đô thị hóa một số quan niệm - TS VƯƠNG CƯỜNG

By VƯƠNG CƯỜNG



Đô thị hóa một số quan niệm

 TS VƯƠNG CƯỜNG


( Trích Những vấn đề kinh tế - xã hội nảy sinh trong quá trình đô thị hóa Thành phố Hồ Chí Minh - Chương trình nghiên cứu khoa học tổng kết thực tiễn cấp bộ. Chủ nhiệm chương trình :TS VƯƠNG CƯỜNG )

Sau gần hai năm nghiên cứu công trình đã được hội đồng nghiệm thu đánh giá công phu nghiêm túc  kết quả khá chúng tôi xin trích đăng một số phần ( Do công trình có dung lượng lớn  ) để các bạn có nhu cầu tham khảo .





More...

Nhưng thử nghiệm DNNN trước khi chuyển sang kinh tế thị trường - TS VƯƠNG CƯỜNG

By VƯƠNG CƯỜNG

                                             TS VƯƠNG CƯỜNG

         XNQD   là tên gọi trước đây của doanh nghiệp nhà nước (DNNN) được hình thành từ việc quốc hữu hóa các xí nghiệp tư bản tư nhân hoặc tiếp nhận các doanh nghiệp do chính quyền cũ để lại sau những năm 1954 và 1975. Trong quá trình cải tạo XHCN ở miền Bắc mô hình “công ty hợp doanh” ra đời nhà nước áp đặt luôn cơ chế quản lý như DNNN cùng với hoàn cảnh cụ thể của lịch sử lúc ấy nó cũng biến dần thành công ty xí nghiệp nhà nước. Quá trình phát triển nhà nước và cả địa phương chủ động xây dựng nhiều DNNN cho đến giữa thập kỷ 80 của thế kỷ XX chỉ khác nhau về cấp quản lý1.

More...

Những thử nghiệm trong lĩnh vực nông nghiệp trước khi chuyển sang kinh tế thị trường - TS VƯƠNG CƯỜNG

By VƯƠNG CƯỜNG

TS VƯƠNG CƯỜNG


...Thực tiễn cuối những năm 1970 cho thấy quyết tâm của Đảng sự đầu tư của Nhà nước cho nông nghiệp rất lớn nhưng nông nghiệp vẫn phát triển chưa cao. Sản lượng lương thực cả nước năm 1975:13 3 triệu tấn tương tự 1976:13 493; 1980:14 832... chỉ tiêu 21 triệu tấn lương thực chỉ đạt 2/3. Nhiều nơi lòng tin của nông dân vào Đảng giảm sút. Thực tiễn đã đặt ra một câu hỏi lớn mà chưa có lời giải.

Một đất nước với gần 80% nông dân nền nông nghiệp đang trong tình trạng lạc hậu thu nhập chính vẫn từ nông nghiệp mà bình quân lương thực năm 1980 của nông dân là 11 4 kg/người/tháng thì cuộc khủng hoảng kinh tế –xã hội ập đến như một lẽ tất nhiên... 

  

More...