Nỗi cô đơn mang tên đàn ông - Võ Kim Ngân

By VƯƠNG CƯỜNG


VC: Tập thơ Đám mây hình thiếu phụ của tôi vừa ra mắt bạn đọc chưa lâu nhiều bạn đã gọi điên hoặc gửi qua mail cho tôi với nhiều lời động viên. Biết là tùy năng lực thật của nó mà được sự đối xử của bạn đọc khi nhận được bài viết của Võ Kim Ngân từ Đà Nẵng đúng lúc gia đình tôi có chuyện buồn. Hôm nay tôi xin phép chị VKN đưa về nhà để bạn đọc trang tôi tham khảo tôi có sửa một chút xíu đầu đề bài viết. Cảm ơn Võ Kim Ngân và các bạn !

 

Nỗi cô đơn mang tên đàn ông
Võ Kim Ngân
(Đọc tập thơ: " Đám mây hình thiếu phụ" của Vương Cường  NXB Văn học 2010)
  
      Tập thơ của nhà thơ Vương Cường do Nhà xuất bản Văn học ấn hành vào tháng 3 năm 2010 bìa màu tím và cái tên khá nữ tính " Đám mây hình thiếu phụ". Trong tập thơ hình ảnh màu tím rải trong hầu hết các bài thơ màu tím của bằng lăng màu tím của lục bình màu tím của đám mây ngọn gió...Người ta bảo màu tím là màu của tâm trạng buồn nhung nhớ xa xôi và có vẻ mang chút gì đó ủy mị và nữ tính. Chỉ cầm tập thơ không quen biết tác giả người ta khó đoán đó là tập thơ của một người đàn ông khá mạnh mẽ trong tính cách một tiến sĩ khoa học chủ nhân của không ít những công trình dự án khoa học cấp quốc gia. Anh có duyên với thơ từ sớm có lẽ vì ảnh hưởng của cha chú   những nhà thơ có tên tuổi trong làng văn học. Vương Cường gọi nhà thơ Vương Trọng là chú nhà thơ Thạch Quỳ là anh. Vương Cường từng được tặng giải nhì cuộc thi thơ năm 1981 do báo Tuổi trẻ thành đoàn và Sở VHTT TP Hồ chí Minh tổ chức. Anh in tập thơ đầu tay: "Bài hát đi tìm một người" năm 1997 và có nhiều bài thơ in chung với các tác giả khác. Gần đây anh có nhiều bài viết nghiên cứu bình luận về thơ và các hiện tượng văn học tạo ấn tượng tốt cho dư luận với góc nhìn khá riêng.


     
      " Đám mây hình thiếu phụ" gồm 36 bài thơ phần lớn là những sáng tác mới nhất của Vương Cường trong vài năm gần đây. Tôi chưa được đọc những bài thơ trong các tập thơ đã in nên không có điều kiện để so sánh nhưng với 36 bài thơ in trong tập thơ này Vương Cương đã tạo ra một chất thơ riêng của mình trên cánh đồng thơ mà bao người đã cày xới và gieo hạt. Thơ Vương Cường mang giọng điệu truyền thống nhưng hình ảnh trong thơ lại mới mẻ và hiện đại. Lối thơ truyền thống và hiện đại Được sử dụng và hòa quyện nhuần nhuyễn trong thơ Vương Cường tạo ra sức truyền cảm khá lớn.
      Đọc những bài thơ trong tập thơ: " Đám mây hình thiếu phụ" ta như  nhìn thấy hình ảnh người đàn ông cô đơn trên cánh đồng hoàng hôn sẫm đỏ ngóng về đám mây xa - "đám mây mang hình thiếu phụ". Đám mây mang bóng dáng nửa cuộc đời của mỗi người đàn ông.
      Đọc bài thơ "Một mình đêm" tôi bị ám ảnh bởi câu thơ ở khổ thứ 2 và thứ 3. Trong bóng đêm sâu thẳm con người đối diện với chính mình loay hoay với chính mình vui buồn với chính mình. Nỗi cô đơn trở nên sâu sắc hơn rõ hình hài sắc nét hơn với hình ảnh: " Ta một mình đêm khâu áo cho ta". Ta đầu câu thơ trở về ta cuối câu thơ. Ta chỉ có ta. Quanh quẩn chỉ có ta- một mình. Và không chỉ thế hình ảnh « Ta... khâu áo cho ta » gợi lên cảm xúc xót thương cho sự cô quạnh của người đàn ông.  Khi bóng đêm buông xuống người đàn ông vụng về ngọng nghịu cặm cụi vá víu những vết thương vết rách đời mình. Không hình ảnh nào dễ làm người ta trào nước mắt như thế. Vá víu cho mình và cũng tự đắm say với mình :
« Lặng chìm đêm mơ khúc dạo ngày
đêm cùng ta pha lấy những đắm say
kìa hoa nở trên cánh đồng xa cách
đám mây hồng vừa gọi vừa bay... »
(Một mình đêm)
      Cái đắm say tác giả tự pha cho mình cũng chỉ là những ước mơ bay chấp chới phía trời xa trên những đám mây hồng « vừa gọi vừa bay ».
      Ở bài thơ « Giao thừa ơi » tâm trạng cô đơn thể hiện trong sự trống rỗng vô cảm như không có gì đợi anh ở phía sau không có gì chờ anh ở phía trước: «  Vội vã thế thôi dòng sông từ xưa theo lệnh trời về biển ... ». Trong mắt Vương Cường : «  đôi én lượn lờ không sốt ruột mùa xuân rồi có đến không ». Anh thờ ơ anh đứng ngoài cuộc trước những xoay chuyển của trời đất. Bởi vì với anh :
« Con đường trống không có gì đâu mà ngóng đợi
Ngày chảy dài ngọn lửa vẫn bình yên xanh...
     
Năm tháng với anh trở thành « khí trơ » không « vui buồn thổn thức ». Anh thú nhận với mình : «  ta dị ứng sắc màu trùm chăn không người lay gọi ». Sự cô đơn đôi khi khiến người ta như vô giác quay lưng với tất cả...Điều gì khiến anh trùm chăn trong nỗi cô đơn của chính mình ? Bị bỏ rơi trong nỗi cô đơn của chính mình ? Một người đi không trở lại ? Một  « vết sẹo mùa xuân »  vĩnh viễn ?  Không hẳn thế ! Phải chăng đó còn là cảm giác lạc lõng và bị bỏ rơi giữa chốn thị thành thừa thãi ồn ào náo nhiệt và cũng lắm sự đảo điên. Trong nỗi cô đơn giao thừa anh mơ anh thèm những điều thật giản dị mộc mạc chân quê : «  bàn tay xới bát cơm nước mắt » « nụ cười nhăn nhúm lả tả rơi trước ngõ »   «  câu chào ướt vãi tung tóe trong xó bếp » và thèm sự ấp áp lứa đôi  «  hai chiếc gối lửa cháy ấm rực trong phòng... ». 
      Trong số những bài thơ viết về nỗi cô đơn « Hoàng hôn muộn » là một trong những bài thơ hay và  thể hiện rõ chất thơ và chất người của Vương Cường. Đó là tâm trạng của người đàn ông đã ở bên kia đỉnh dốc cuộc đời đã nếm trải những vui buồn của cuộc sống đã đi qua những ngộ nhận đau buồn và cả những tỉnh thức đớn đau mà vẫn dâng đầy những khát khao về cuộc sống. Tác giả tự bạch về mình :
«chim lật gió nắng không còn trai trẻ
đã hoàng hôn chuông thỉnh rụng bờ thu...
« niềm vui phủ lớp sương mờ ảo mộng
nỗi đau qua lắng núi với trưa hồng...
«hoàng hôn cuộn lòng thu chờ trăng gọi
lá bàng rơi cuống quýt ngập vai đời...
(Hoàng hôn muộn)
     
Giọng điệu thơ cũ được tác giả làm mới lại bằng những hình ảnh với sự liên tưởng khá tinh tế: «mây áo mỏng  hững hờ thắt nút» «trưa ốp nếp cong nỗi lòng chín đợi » «chiều lưu ban tím mận ngập ngừng trôi »... «Gió thiếu nữ.. » «nắng đàn ông... »   các hiện tượng thiên nhiên được nhân cách hóa một cách sáng tạo gợi sự liên tưởng lớn cho câu thơ. Vương Cường sử dụng những hình ảnh nhân hóa trong nhiều bài thơ. Dùng đúng liều đúng chỗ  câu thơ trở nên mới lạ giàu liên tưởng nhưng dùng quá đà đà thì cậu thơ dễ bị làm dáng điệu đà. 
     
Từ nỗi cô đơn nghiêng lệch cả trời đất Vương Cương khát khao sự sẻ chia khát khao tình yêu. « Anh khát bước đi trong mưa vội vàng gió táp mặt người khô cháy. Nghe cựa quậy trong tim một mầm cây miễn dịch phế tích buồn » (Ngày mai).  «  Anh đã gọi em mòn cả hoàng hôn như thế. Cánh đồng mọc đầy tóc bạc... »(Anh gọi tên em). Anh yêu với một trái tim yêu cạn kiệt : «Yêu đến hết sông gầy hồn loang đáy. Mây tấp chiều lòng trời rỗng bơ vơ... » ( Đêm rớt mạng). Trong thơ anh là người tình tận tụy. Xa người thương anh đếm từng khoảng khắc : «Anh xa em một trăm sáu mươi tám giờ ba mươi hai phút bốn mươi giây. Mưa da diết dệt lụa nhớ hồng hào bốn ngàn cây số... » (Thơ viết từ Xiêng Khoảng)-Một câu thơ lạ diễn tả nỗi nhớ nhung khủng khiếp được đếm bằng từng khoảng khắc thời gian và không gian xa cách . Xa cách người yêu anh tỉ mẩn đếm :
Bốn ngàn cây số
Nỗi nhớ xếp hàng
Tình yêu xếp hàng
Thời gian xếp hàng.
(Xa)
Và nỗi buồn chia xa :
Buồn cô đặc xếp hàng như tượng đá....
Xa em anh đốm lửa nhỏ sắp tàn...
(Giật mình nghe tiếng gió)
     
Tình yêu trong thơ Vương Cường luôn là sự vọng tưởng bởi sự xa cách về không gian và thời gian. Là ngóng đợi trông chờ mong manh khoảng cách được lấp bằng tin nhắn mạng internet : « Mạng rớt em thành xa ngái. Thơ viết rồi bỗng cháy còn tươi... » (Đêm mạng rớt).  Đó là nỗi khát khao : «  ta lấy lửa tim mình đốt đỏ cả đêm thâu » và bên kia  « Em đom đóm lập lòe bên bờ giậu » (Có khi). Trong bài thơ  Nhật ký  nỗi mong đợi khát khao nghe ngóng tín hiệu từ phía người thương  chiếm trọn cả không gian thời gian  sáng trưa chiều tối. Và tâm hồn anh là  cánh cửa mở tung mong đón « hương » người xưa trở về trong cuống quýt nhớ mong : « nhà anh mở tung mười cánh cửa. đón hương em chân cuống quýt trở về... » (Thơ chiều cuối năm).
     
Sự da diết đau đớn khao khát mãnh liệt với tình yêu thể hiện rõ nét qua bài thơ « Giật mình nghe tiếng gió » cũng là một bài thơ rất hay trong tập thơ:
« Nghe mùi hương em thoảng trong giấc mơ
anh giật mình tỉnh dậy giữa đêm khuya
căn phòng anh lặng im. Và gió
gió lồng lên muốn bế cả sân chùa ... »
(Giật mình nghe tiếng gió)
     
Người ta thường nói tới sự quen hơi bén tiếng của những người thân thuộc cũng như những hạnh phúc từng nếm trải thật khó quên. Bởi vậy một chút hương người xưa chỉ phảng phất trong giấc mơ chút hạnh phúc ngày xưa chỉ thoáng về cũng khiến tác giả mất ngủ và dữ dội hơn nó kéo theo niềm đam mê và sự khao khát muốn phá tung và cuốn đi tất cả: "Gió lồng lên muốn bế cả sân chùa". Sân chùa vốn là chốn tĩnh lặng thanh tịnh vững chãi phút chốc bị cơn gió khát vọng cuốn đi như một hòn gạch. Thơ Vương Cường cứ hiền lành mà dữ dội nhỏ nhẹ mà bão dông âm ỉ mà bùng cháy đau đớn đến trong veo:
"Cửa đã khép ngôi nhà chưa hoang lạnh
Mảnh pha lê cứa rách những giấc mơ
Mây vẫn thắm gió vẫn lồng phía trước
Nắng vàng mơ như chẳng bao giờ..."
(Gom gió)
     
Hạnh phúc của Vương Cường trong thơ có gì thật mong manh thật xa xôi. Anh có một bài thơ để tên" Bài thơ chợt đến tặng Tiên". Tiên là một tên thực hay tên ảo tác giả đặt cho giấc mơ của mình ?  Có lẽ  chỉ tác giả mới biết nhưng với những gì anh trao gửi   người đọc hiểu được sự mong manh và những khát khao của anh từ những tình cảm đẹp đẽ đến không thực mà anh đang mong chờ như cánh đồng khát hạn chờ mưa.
" Chỉ có gió cứ lồng lên thành bão
anh không thể nào nhặt lên được những mảnh hạt lời anh gọi em ...
(Anh gọi tên em)
     
Nỗi cô đơn trong thơ Vương Cường - nỗi cô đơn mang tên đàn ông tung hạt ra khắp bốn phương những lời gọi tha thiết một nửa ở vời vợi xa...

16/3/2010
Võ Kim Ngân
( Hội VHNT Đà Nẵng )

More...

Gọi trong miền ảo vọng - HL

By VƯƠNG CƯỜNG

GỌI TRONG MIỀN ẢO VỌNG
HÀ LINH


(Cảm nhận nhân đọc bài thơ "Anh gọi tên em" của Vương Cường *)

Tôi đã từng nhiều lúc như thế chìm trong thế giới ảo vọng nhìn đâu cũng thấy một gương mặt nghĩ gì rồi cũng chạm đến nỗi nhớ cồn cào. Cái nhớ hữu hình mà vô hình vô định ở đâu đó trong tôi ngoài tôi gần xa lẫn lộn. Cái nhớ có thể giết chết thời gian bóp méo không gian làm lệch ánh sáng làm nhoè sắc màu ...

Dường như Vương Cường đang cố níu lại nỗi nhớ ấy. Biết là có thể bất lực khi hữu hình hoá nó nhưng anh vẫn cố nhét chúng vào trong câu chữ. Toàn là những câu chữ ta thường nói những câu chữ tự nó không đẻ thêm ngữ nghĩa lạ không dễ mang được hồn ta vào cõi lênh đênh. Anh có thành công hay không trong cố gắng "mặc áo" cho nỗi nhớ? Điều đó bạn có thể tự ước định khi đọc "Anh gọi tên em"(*). Còn tôi khi đọc bài thơ này tự dưng lại rơi về cảm giác vô định kia. Những câu thơ thật cay nghiệt bởi nó lại một lần nữa kéo tuột tôi vào thế giới ảo vọng trong những phút giao thừa Tết Kỷ Sửu đúng vào lúc thời gian dường như đảo chiều phá vỡ hai chiều trong thế giới thực trở thành đa chiều trong từ trường ký ức đầy ma thuật.

Có lẽ cái ma thuật của ký ức bắt đầu từ một hình ảnh thực tế mà bước sóng của tâm hồn nhạy cảm trùng nhịp một cách vô thức với nó. Hoàng hôn trên cánh đồng với chân trời đầy mây thì có gì lạ nhỉ. Ấy vậy mà nó lại là hình ảnh đa mang tương tư của Vương Cường làm bật lên tiếng gọi dồn nén trong lòng:

Chiều chiều giữa hoàng hôn cánh đồng
Ngóng về chân trời xa
Có đám mây hình thiếu phụ
Anh gọi tên em 

Khung cảnh giản dị thôn quê câu chữ cũng vậy. Nhưng vậy đấy khi nỗi nhớ là chân thành thì sự thừa nhận nó cũng rất ngắn gọn. Có gặp Vương Cường ngồi tán gẫu nhâm nhi vài ly rượu với anh mới thấy rõ cái tính cách đó: đi thẳng đến đối tượng bóc gỡ mạnh dạn những vấn đề hóc. Có lần đọc thơ anh tôi nói đùa rằng anh yêu rượu nên người như có lửa bắt tay cũng truyền lửa làm thơ cũng dùng lửa. Cái lửa ấy như lửa cồn thiêu rất nhanh những râu ria rơm rác bên ngoài để lộ óng ra cái cốt lõi bên trong. Tôi lạ là Vương Cường làm thơ mà lại có phương pháp tiếp cận như một nhà khoa học vậy chuốt sạch để còn lại những câu thơ cô đặc. Sau này mới biết anh có học vị Tiến sỹ.

Với cách đó Vương Cường đã "đốt cháy giai đoạn" với sự chuyển mạch cô đọng đầy bất ngờ: 

Anh đã gọi em mòn cả hoàng hôn như thế 

Vương Cường lặp lại điệp từ "Anh gọi em" trong hai câu liên tiếp nhưng không phải anh nhìn trăng nhìn sao nhìn chim hay hoa lá để đa dạng hoá tiếng gọi. Chỉ nhìn đám mây rồi gọi vọng vào chiều vậy ma lực nào làm mòn cả hoàng hôn? Có lẽ đám mây hình thiếu phụ kia choán toàn bộ tâm hồn để anh gọi thành tiếng gọi thầm trong lòng gọi như ánh nhìn hoang hoài miết mãi vào chiều gọi như cộng cảm níu nuối lấy nắng lợt. Hoàng hôn mòn rồi thì còn lại những gì? Câu thơ trùng lại và tôi chợt se thắt với nỗi đau của chính mình.

Còn gì nữa đâu. Tuổi trẻ đã qua hoàng hôn đã muộn lại còn mòn thêm như thế. Cánh đồng mọc đầy tóc bạc! Cuộc gọi muộn màng vô vọng dâng thành nỗi đau xa xót trần trụi tràn lên:

Cánh đồng mọc đầy tóc bạc
Những hàng cây không mặc áo
Tua tủa tràn lên
Chẳng có màu xanh
Chẳng có màu vàng
Chẳng có màu trắng
Xa...

Chỉ có gió lồng lên thành bão 

Phải chăng không gian cánh đồng ấy không còn hy vọng màu xanh không có kết quả vụ mùa vàng mượt không cả lãng mạn hoa cỏ miên man trắng... Chỉ còn là cánh đồng ảo giác hư xa nhạt nhoà đầy thất vọng trong ngóng vọng. Phải chăng cánh đồng Vương Cường bây giờ chỉ là mùa đông không còn mùa Xuân xanh không còn mùa Thu vàng không còn Hạ trắng nữa. Mùa đông sương muối gội bạc cành cây trụi lá thường thấy trên rẻo cao thường có ở mùa đông xứ tuyết. Có lẽ Vương Cường muốn ngoa cọ vẽ sẫm tiếng gọi giữa cánh đồng ảo vọng mùa Đông. Có phải cuộc đời đã sang mùa rét không chỉ bởi có hay không tuyết giá ở bên ngoài.

Phải chăng nỗi nhớ người thiếu phụ anh đã gieo vào tít chân trời không nảy mầm được trên đất không hồi lại thành xanh - vàng - trắng hữu hình như cỏ cây hoa lá có thật ở xung quanh. Cái nhớ ấy ảo giác hoá cả cánh đồng lau sậy chăng. Cánh đồng chỉ có một màu trắng ngời trắng bơ thờ trắng rụng rơi dần trong gió ấy đã khiến Vương Cường đau và nhận ra cái có thật là "Chỉ có gió cứ lồng lên thành bão!"  Làm gì có cơn bão nào đám mây hình thiếu phụ vẫn còn đứng đó chẳng tan dạt đi đâu. Chắc là bão trong lòng nổi lên thổi ngược hiện tại về quá khứ cuốn theo nối nhớ đảo chiều thời gian chăng.

Tôi đã không ít  lần gặp lại điệp từ "gọi tên em" trong nhiều bài thơ đã đọc đã viết một thời. "Cho anh gọi tên em chiều gió nổi/Hoàng hôn bập bùng nắng cuối". "Anh gọi em hun hút phố dài". "Gọi tên em võng cả cung đàn". "Gọi em bốn mùa.../cánh đồng rạp gió khóc trong mưa". "Gọi em xô nghiêng vầng trăng"... Nhưng bây giờ thì gặp Vương Cường với "Gọi em mòn cả hoàng hôn". 

Tôi đã làm một cuộc tra cứu trong hơn 4.600 câu ca dao nói về tình yêu đôi lứa. Đủ cả những hình tượng của vạn vật trong vũ trụ trong thiên nhiên cây cỏ lá hoa bốn mùa con vật trên đất tôm cá dưới nước con chim trên trời. Đủ cả những gắn bó làng quê đồng rơm rạ lúa và những hoạt động thường nhật bao trùm cuộc sống sinh tồn làm ăn buôn bán của con người... Có thế tôi đọc còn ít ca dao chưa nhiều những nhà thơ thành danh. Thế nên lần đầu tôi gặp hình ảnh "đám mây thiếu phụ gọi mòn hoàng hôn" của Vương Cường. Những hình tượng thơ ấy níu mãi tôi với "Anh gọi tên em" của anh.

Vương Cường gọi người của tương tư mà không thao thiết quá. Có lẽ lửa nóng đến mức nào đó thì thành xanh. Nỗi đau đến mức nào đó thì khô mắt. Nỗi buồn đến mức nào đó thì cười lặng. Có lẽ vì thế câu thơ ở đây cứ từng khúc nấc khan rơi ra không cần dẫn giải thách đố người đọc.

Vương Cường lạc từ không gian thực vào không gian ảo từ gọi hắt lên thành tiếng đến gọi vô thanh trong miền ảo vọng. Anh thành ra người "ngây ngô" chập choạng giữa ảo và thực gửi lời đến chân trời xa mà lại cứ muốn nhặt lại lời rõ ràng là phi vật thể mà cứ muốn nó định hình như đá cuội. "Anh không nhặt lên được những mảnh hạt lời anh gọi em". Câu thơ cuối cùng này lộ rõ Vương Cường đang lãng du phiêu diêu trong hoài nhớ ảo tưởng trong đời thực. Chỉ có tình yêu đằng đẵng chung tình mới thôi miên câu thơ đạt đến hay và hư ảo như vậy.

Tôi cứ băn khoăn tại sao trong bài lại có những câu dường như mâu thuẫn không là "cánh đồng hoàng hôn" mà là "hoàng hôn cánh đồng"?. Tại sao lại mượn hình ảnh "cánh đồng mọc đầy tóc bạc"?. Đã thế lại "Chẳng có màu trắng"?... Hình như Vương Cường đang tạo ra đối xứng ảo giữa hình dáng em là đám mây trên trời với gương mặt anh là cánh đồng mặt đất. Và cánh đồng anh giờ đã đầy râu tóc bạc cuộc đời chỉ còn là mùa đông. Bài thơ như một bức hoạ lập thể đa nghĩa tạo ra nhiều trục mở của tư duy.

 Đôi khi đọc thơ tôi cám ơn tác giả đã dẫn tôi lạc vào tiềm thức ẩn giấu đằng sau thơ. Đôi khi tôi trách thầm tác giả vô tình khơi gợi lại nỗi đau của tôi. Đôi khi tôi ghen với tác giả đã viết hay hơn tôi nghĩ về tâm sự của chính mình. Nhưng nếu không có những người thơ vần thơ như thế đọc rồi đọng lại thì tình yêu một thời của tôi nỗi đau tưởng không quên của tôi cũng đã bị lãng quên mất rồi./.  

Anh gọi tên em


                         VƯƠNG CƯỜNG

Chiều chiều  giữa hoàng hôn cánh đồng
ngóng về chân trời xa
có đám mây hình thiếu phụ
anh gọi tên em

Anh đã gọi em mòn cả hoàng hôn  như thế
cánh đồng mọc đầy tóc bạc
những hàng cây không mặc áo 
tua tủa tràn lên 
chẳng có màu xanh 
chẳng có màu vàng 
chẳng có màu trắng
xa ...

Chỉ có gió cứ lồng lên thành bão
anh không nhặt lên được những mảnh hạt lời anh gọi em

2 - 8 - 2008





*: Đăng trên báo Người Hà Nội số Tết Kỷ Sửu

More...

Đêm cuối cùng mẹ ru con - thơ N.T.L

By VƯƠNG CƯỜNG


 

     Chào bạn đọc của tôi!Thứ 7 ngày 16-5-2009 sau khi viết xong bài nghiên cứu cho một chương trình khoa học theo nghị định thư tôi tự thưởng cho mình một cuộc dạo vu vơ. Bất ngờ gặp lại anh bạn học ngày xưa.

- Này tôi đọc bài Thơ viết từ Xiêng Khoảng  của ông rồi. Tôi cũng có bài đi cùng số ấy đấy.

- Khi đọc Đêm cuối cùng mẹ ru con tôi nghĩ đến ông.

Khi học với nhau tôi không thấy NGUYỄN TRỌNG LUÂN làm thơ bao giờ. Hôm nay tôi xin giới thiệu bài thơ này với bạn đoc  bài đã in trong mục thơ dự thi tạp chí VNQĐ cuối tháng 4-2009 số 19 của bạn tôi sau mấy năm trời mới gặp lại.

Preview



NGUYỄN TRỌNG LUÂN
Đêm cuối cùng mẹ ru con
Viết tặng Mẹ đồng đội tôi liệt sỹ Phí Văn Măng

Biền biệt bốn chục năm mẹ đón con về
Đồng đã gặt rồi đón con rơm vàng xóm ngõ
Tám mươi tuổi mẹ lại bồng con vườn nhà nức nở
Nức nở tiếng ru à...ơi!

Đêm nay nhà mình đèn lại sáng choang
Nước mắt tưởng khô mấy chục năm không khô nổi
Thức cùng con đêm nay
Mai con lại đi rồi

Mẹ lại bồng con à ơi!
Hài cốt quấn vuông vải mới
Có tã lót nào đau xé lòng đến thế
Mẹ ru con quằn quại tiếng trống kèn

Cái tên cửa ngõ Sài Gòn
Ba ba năm mẹ nằm mơ đêm nào cũng thấy.
Ngày Một ngày Rằm thắp hương bánh Cáy
Ngày thường rau tập tàng cua ốc...à ơi!

Mai lại đưa con đi với đồng đội con rồi
Nghĩa trang heo heo gió tím
À...ơi...! Ngủ đi con đêm nay mẹ ru con lần cuối
À...ơi!

Hà Nội tháng 12-2008
N.T.L

More...

Gọi trong miền ảo vọng-HL

By VƯƠNG CƯỜNG


Gọi trong miền ảo vọng
HÀ LINH

( Đọc bài thơ ANH GỌI TÊN EM của VƯƠNG CƯỜNG in trên số xuân Kỷ sửu báo NGƯỜI HÀ NỘI)

      Khi Hà Nội và trên nhiều vùng của tổ quốc pháo hoa đang tràn ngập bầu trời đón một mùa xuân mới trở về xuân Kỷ Sửu 2009 có một người đang ngồi viết cảm nhận bài thơ ANH GỌI TÊN EM của tôi. Người đó là Hà Linh! Tôi lấy làm cảm động xin được pots lên đây để các bạn cùng đọc như một lời chào đầu năm mới của tôi. Năm sớm một lần nữa tôi xin cầu chúc tất cả các anh chị và các bạn một năm mới tràn đầy hạnh phúc an khang thịnh vương!

VƯƠNG CƯỜNG



 

More...

Ghi chép của một sinh viên DHXD-Cựu chiến binh Thành cổ Quảng trị

By VƯƠNG CƯỜNG


 

Một trong những sinh viên DHXD tham gia chiến đấu bảo vệ thành cổ năm 1972-Bạn tôi-Kỹ sư LÊ XUÂN TRƯỜNG là người mau nước mắt nhất. Bạn chắc còn nhớ một người khóc ướt cả màn hình VTV3 năm trước khi kể lại chuyện đi tìm mộ Liệt sỹ LÊ VĂN HUỲNG người còn để lại bức thư tại bảo tàng thành cổ. Trong thư ấy Huỳng biết trước nơi mình hy sinh 2 tháng ấy. LÊ XUÂN TƯỜNG đưa cho tôi những ghi chép về một thời đỏ lửa 1972 và nói anh xem các địa danh có đúng không nhé. Tôi đưa lên một phần gửi các bạn đọc...
VC


TRỞ LẠI THÀNH CỔ


      Được sự nhất trí của lãnh đạo Sở Giao dịch I NHCT VN một ngày đầu đông của tháng 12 lịch sử - kỷ niệm 60 năm ngày toàn quốc kháng chiến ; 62 năm ngày thành lập QĐND VN và 34 năm chiến thắng Điện Biên Phủ trên không - đoàn CCB chúng tôi lên đường về thăm lại Quảng Trị - mảnh đất đầy đau thương nhưng đã đi vào huyền thoại trong lịch sử chiến tranh Việt Nam
      Chiến tranh đã lùi xa hơn 30 năm cùng với cả nước Quảng Trị đã vươn mình đứng dậy từ tro tàn của chiến tranh. Khắp dọc đường đi là những công trình mới mọc lên những cung đường thênh thang xe cộ tấp nập vào ra những mầu xanh của lúa của cao-su hồ tiêu ngút ngàn ... nhưng chen lẫn vào đấy là những nghĩa trang liệt sĩ với vô vàn những bia mộ của những liệt sĩ chưa biết tên...Quảng Trị đứng đầu cả nước về số nghĩa trang liệt sĩ với 72 NTLS trong đó có 5 cái mang tầm cỡ quốc gia. Trong đoàn chúng tôi có những CCB đã để lại tuổi 20 và một phần máu thịt của mình tại mảnh đất thiêng liêng này.     
     
Cầu Thạch Hãn bên bờ Bắc uy nghi l đài tưởng niệm với hình tượng 20 trái tim đỏ thắm tượng trưng cho 20 chiến sĩ của trung đội Mai Quốc Ca đã hy sinh tới người cuối cùng để chặn đường rút quân của địch không cho chúng phá cầu nhằm chặn đường tiến của xe tăng ta vào Thị xã Quảng Trị. Dòng Thạch Hãn êm đềm trôi về Cửa Việt bờ hữu ngạn là thị xã Quảng Trị với nhà cửa phố xã đông vui chợ Quảng Trị sầm uất trên bến dưới thuyền...Nhưng ai có hình dung ra được nơi đây 34 năm về trước là một chảo lửa của mùa hè 1972. Giờ đây dòng sông này bờ bến này vẫn truyền tụng nhau những vần thơ đau đáu của một thời:
" Đò xuôi Thạch Hãn xin chèo nhẹ
Đáy sông còn đó bạn tôi năm.
Có tuổi đôi mươi thành sóng nước
Vỗ yên bờ bãi mãi ngàn năm..."
     
Chúng tôi vào tới Thành Cổ đã bao lần trở lại đây mà lần nào cũng rưng rưng nước mắt nhớ tới đồng đội nằm lại mảnh đất này. Anh Vinh - Giám đốc Di tích Thành Cổ - đón chúng tôi ngay ở cổng vào. Đài tưởng niệm Thành cổ hình tượng l nấm mộ lớn cho những chiến sĩ đã ngã xuống trong 8l ngày đêm của Mùa Hè đỏ lửa 1972. Bên dưới là cách điệu của căn hầm chiến đấu với những hành trang của người lính: ba-lô con cóc mũ tai bèo bi-đông đôi dép đúc cao-su tăng võng hăng-gô và l khẩu AK. Hành trang của người lính thật là giản dị nhưng chiến công của Anh muôn đời bất tử. Đoàn chúng tôi kính cẩn nghiêng mình trước anh linh của những liệt sĩ đã ngã xuống cho mảnh đất này. Hình tượng cây hương vươn lên trời cao như nhắn nhủ vong linh của các Anh của những con người vì Nước hiến thân khi tuổi đời còn rất trẻ sẽ luôn sống mãi với tuổi mười tám đôi mươi của mình nó như cây bút lông của kẻ sĩ Bắc Hà - đang nhấn lên trời xanh bản Anh hùng ca bi tráng của Thành Cổ Quảng Trị. Xung quanh Đài là 8l tờ lịch bằng đồng từ 28/6 đến 16/9/1972 khắc hoạ 81 ngày đêm bám trụ giành giật với địch từng căn nhà góc phố từng tấc đất thiêng liêng của Thành Cổ.
     
Đài chứng tích Sinh viên - Chiến sĩ hình tượng cuốn sách mở với phần Dương màu đỏ giành cho những người đang sống với 11 bức phù điêu mô tả quãng đời trở thành chiến sĩ Thành Cổ kể từ khi rời giảng đường Đại học đi chiến đấu đến ngày toàn thắng trở về tiếp tục đi học và là tấm gương sáng cho các thế hệ trẻ noi theo...phần Âm mầu đen để tôn vinh những Liệt sĩ Sinh viên - Chiến sĩ trong số hơn l vạn chiến sĩ đã ngã xuống vì Thành Cổ Tại đây Thành Cổ Quảng Trị kiên cường bao chiến sĩ sinh viên Việt Nam đã anh dũng chiến đấu vì độc lập tự do và thống nhất Tổ quốc nhiều người trong số họ đã hy sinh oanh liệt. Các Anh sống mãi trong lòng đất nước nhân dân và đồng đội thân yêu .
     
Bảo tàng Thành Cổ với những hình ảnh và hiện vật của những tháng ngày ác liệt tất cả sống động như mới ngày hôm qua. Lá thư của Huỳnh và những di vật của các Liệt sĩ được bầy trang trọng ở gian chính. Nhiều người hỏi tại sao lại có được những dự cảm thiêng liêng đó...Nói với họ như thế nào nhỉ ? Phải chăng trước những phút giây định mệnh của cuộc đời với những dòng chữ để lại như những dòng máu đỏ được rút ra từ trái tim mình.
     
Tại phòng khánh tiết Đoàn đã trao tặng Bảo tàng món quà nhỏ chứa đựng những tấm lòng của anh chị em cơ quan với Thành Cổ. Các anh trong Ban Giám đốc đã cho biết NHCT VN đã đầu tư để nâng cấp tu bổ và bổ sung hiện vật cho Bảo tàng thật là một món quà quá lớn đối với mảnh đất còn nhiều khó khăn này. Phòng khánh tiết sau khi đuợc tu bổ mang dáng dấp thật hoành tráng và hiện đại với mầu sắc ánh sáng làm tôn thêm BẢN ANH HÙNG CA BẤT DIỆT ĐẦY BI TRÁNG CỦA THÀNH CỔ.
     
Trong 81 ngày đêm chốt giữ Thành Cổ trung bình hàng đêm có 1 đại đội tăng cường khoảng 100 người vượt sông và cũng có từng ấy con người ra đi không trở về thân thể máu thịt của họ đã hoà vào nước sông trôi ra Cửa Việt hoà vào biển cả để muôn đời sau còn nhớ tới các Anh.                     
     
Bờ sông giờ đã được làm kè có bậc lên xuống tạo cảnh quan đẹp nhưng tại đây những ngày đêm đầu tháng 9/1972 không thể nào quên ấy đây là bến duy nhất vào Thành 3 mặt đều là địch chúng được tăng cường đủ loại hoả lực như xe tăng xe phun lửa chất độc hoá học...đột kích liên tục giành giật với chúng ta từng đoạn bờ thành ; trời lại mưa to nước sông dâng cao hầm hố công sự chìm trong nước anh em ta cầm cự ngoan cường nhưng sức lực giảm dần buộc phải vượt sông sang bờ Bắc đó là cái đêm 15 rạng ngày 16/9/1972. Dinh tỉnh trưởng nằm ngay bến vượt giờ không còn 1 dấu tích gì ở đây đặt Ban chỉ huy bảo vệ Thị xã và Thành Cổ hầm thông tin và trạm phẫu quân y. Nghe nói sau khi chiếm thành địch đã bơm nước vào và dùng thuốc nổ đánh sập hầm trong đó còn 1 số anh em thương binh nặng không kịp rút. Sau này người ta đã xây trụ sở Ban chỉ huy quân sự của thị xã trên mảnh đất này. Người ta đặt tấm bia ghi tên các đơn vị làm kè mà lại quên không làm bia đánh dấu bến vượt và căn hầm của Dinh Tỉnh trưởng.
     
Các CCB Thành cổ còn sống hôm nay trên mọi miền đất nước đang ấp ủ xây dựng tại bến vượt này bên bờ Bắc l đền thờ để tượng niệm những người lính đã ngã xuống trên dòng sông này do những cựu Sinh viên - Chiến sĩ Thành cổ của trường ĐHXD đề xuất giống như Đền Bến Dược bên bờ sông Sài Gòn. Hiện tại dự án này còn gặp nhiều khó khăn nhưng chúng ta tin rằng ý nguyện này sẽ trở thành hiện thực vì những người đã mãi mãi nằm xuống dâng hiến tuổi thanh xuân của mình cho sự tồn vong của dân tộc.
Đồng đội tôi trong chiến dịch 72
Xương thịt nhiều hơn đất đai Thành Cổ.
Bao nguời lính ra đi không về nữa
Để đất này mãi mãi mầu xanh./
           
Quảng Trị-Hà Nội tháng 12/2006
                  
Lê Xuân Tường
    
Cựu Sinh viên-Chiến sĩ Thành cổ Quảng Trị
        
Cán bộ Sở Giao dịch I NHCT VN

More...

LỜI RU CAU - Thơ LÊ CẨM LÊ

By VƯƠNG CƯỜNG

Lê Cẩm Lê vốn là sinh viên khóa 6 trường viết văn Nguyễn Du
xin giới thiệu bài LỜI RU CAU của chị tới bạn đọc .
 
Lời ru cau
 LÊ CẨM LÊ 
( Kính Tặng Thầy VC )

Preview

À ơi ru những nụ cau
Hoa cau nước mắt mẹ đau tháng ngày
Nắng mưa lầm lũi luống cày
Bàn chân mẹ đã đong đầy đường xa

À ơi ru những buổi trưa
Lời thơ mẹ hát tiếng đưa võng đều
Nhà mình trong nắng liêu xiêu
Thoảng nghe tiếng sáo gọi chiều bâng khuâng

Hai mươi tuổi con lấy chồng
À ơi ru mẹ khóc thầm từng đêm
Hoa cau rơi mãi ngoài thềm
Ru cau ru cả nỗi niềm riêng chung .


More...

Thơ cho một người

By VƯƠNG CƯỜNG

 

BÙI TUYẾT NHUNG

Vắt ngang bốn mùa nỗi nhớ
một người gặp rất bâng quơ
người đi mang theo lời hẹn
tháng năm ta ngẩn trông chờ

Bất ngờ một ngày vô định
tựa ánh ban mai người về
tim yêu tưởng chừng đã lạnh
bùng lên ngọn lửa đam mê

Cảm ơn chín phương trời đất
cho ta duyên nợ với người
mong kiếp này đừng trả đủ
để kiếp sau lại sánh đôi

Hà nội9.12.2002

(Rút trong tập thơ Quê nắng Nxb văn học H.2003)

More...

Nỗi đau mỡ màng nỗi buồn sang trọng

By VƯƠNG CƯỜNG


 

 Vương cường:Nhà văn trẻ Trần thị ngọc Lan nguyên là sinh viên khóa 6 trường viết văn Nguyễn Du.Năm 1999 trường tổ cức một cuộc hội thảo mà nội dung mỗi sv tự chọn tác phẩm mình thích để phân tich phê bình giới thiệu.Trong cuộc hội thảo này Ngọc Lan đã chọn bài thơ của tôi.Hai năm sau được người bạn cung cấp nguyên bản viết tay cho tôi.Sau đó tôi gặp Lan và trực tiếp xin bài viết này.Vẫn biết thơ là khó dù thế nào nó cũng đã ra đời.Hay dở chưa nói được. Tôi xem là một kỷ niệm đối với tôi cũng như bài thơ tôi đã gửi các bạn.Tôi gửi bài này để các bạn đọc cho vui


   ... Hiếm có một bài thơ nào hoài niệm và nâng niu chuyện tình xưa tinh tế và sâu sắc thế.Nhưng vượt ra ngoài khuôn khổ tình yêu bài thơ còn là một nỗi đau đời to lớn.Đó là nỗi đau trước dòng thời gian trôi chảy trước cuộc đời ngắn ngủi trước nhân tình thế thái.Nỗi đau đi tìm hạnh phúc và còn có một hơi thở huyền ảo vượt trên ngon ngữ lay động được những tấm lòng trắc ẩn đa mang...




       

More...