"Bức tượng" THẠCH QUỲ - HOÀNG THỤY ANH

By VƯƠNG CƯỜNG

“BỨC TƯỢNG” THẠCH QUỲ 

 Hoàng Thụy Anh 

alt
 
 

      Thạch Quỳ đến với thơ khá sớm lúc ông đang còn là học sinh trung học cơ sở. Từ dạo ấy thơ trở thành nơi trú ngụ hằng cửu tinh thần của Thạch Quỳ. Và đó cũng là hệ quả của: Sao và đất Tảng đá nhành cây Nguồn gốc cơn mưa Con chim tà vặt Cuối cùng vẫn một mình em Đêm giáng sinh Bức tượng... Xuyên suốt các tập thơ người đọc thấy rõ một cái tôi đầy bản lĩnh và một phong cách kiểu Thạch Quỳ. Cái tôi ấy vượt qua khó khăn gian khổ của đường đời và đường thơ để tự khẳng định mình: “Tôi đầy ứ thẳng căng tôi mạnh khỏe/ Tôi cao hơn đất đá mọi công trình/ Tôi không phải sơ đồ bản vẽ/ Tôi cao hơn người máy thần linh” (Tôi). Với cách thể hiện cái tôi của mình Thạch Quỳ tạo ra được cái vị thế của nhà thơ “ngông”. Một cái “ngông” quyến rũ. Ngông để tri kỷ với thơ để không bao giờ dứt tình – thơ dẫu “một đời cuốc mót dưới sao thưa”. Trong các tập thơ tập “Bức tượng”[1] thể hiện rõ cá tính ấy.

     “Bức tượng” không nhiều về số lượng (25 bài thơ) nhưng lại dày về tâm thế của một cái tôi luôn “bùng nổ”. Thạch Quỳ gói gọn cái tôi của mình bằng sự nhất quán: từ một cái tôi cô đơn đến một cái tôi thèm khát tự do.

     1. Những niềm vui nỗi buồn đều được cất dấu trong thơ. Tuy nhiên nỗi buồn sự cô đơn bao giờ cũng là cú hích tinh thần thơ của người nghệ sĩ. Cái buồn cái cô đơn ấy là cái đẹp là tố chất cần thiết cho thơ. Nói như nhà thơ Hoàng Vũ Thuật: “Trong sáng tạo cái riêng con người chất cá thể con người làm nên cá tính sáng tạo. Mà cái riêng chất cá thể đó luôn đẩy con người về phía cô đơn. Vậy thì cô đơn là một biểu hiện tâm trạng. Thơ ca khai thác tâm trạng đó để sáng tạo tác phẩm. Ở góc độ thẩm mỹ tôi nghĩ trong ý niệm tương đối cô đơn thuộc phạm trù cái đẹp”[2]. “Bức tượng” thuộc phạm trù cái đẹp. Trước hết nó là cái đẹp của một cái tôi cô đơn:

Anh quên gì?

Chẳng quên gì!

Anh nhớ  gì?

Chẳng nhớ gì!

Anh nghĩ  gì?

Chẳng nghĩ gì!

Tương lai

Hiện tại

Lăn tròn viên bi...

(Viên bi)

     Những câu hỏi như bày ra sự cô đơn không ý nghĩa gì của nhà thơ trước sự san phẳng của cuộc sống. Số phận nhà thơ số phận thơ cũng như viên bi lăn tròn. Ngay cả nhà thơ - người trăn trở với đời nhất cũng chẳng rõ mình là ai: “Không nằm/ Không ngồi/ Không đứng/ Không đi/ - Hỏi ta là ai?/ - Chính ta chẳng rõ! Thế giới rộng mênh mông/ Mình ta trong nấm mộ!” (Nấm mộ). Hỏi mà chất vấn. Không phải chỉ chất vấn mình mà dường như đang chất vấn cả thế giới. Sự đối lập giữa thế giới và nấm mộ của nhà thơ chính là câu trả lời đầy sắc sảo và tinh diệu của Thạch Quỳ. Đó cũng là con đường đi của ông. Chấp nhận cô đơn để tự do ngay trong sự cô đơn của chính mình. Trong nấm mộ ấy nhà thơ chỉ mở cửa cho nàng thơ của mình mà thôi:

Anh là  kẻ mang phép màu thượng đế

Hãy dắt em đến trước cửa người

Xin cho em trở  về kiếp đá

Đá hóa thành bức tượng giống người thôi!

(Bức tượng)

     2. Trong cô đơn Thạch Quỳ và thơ đồng hành. Nhưng cái tôi cô đơn ấy vẫn chưa bằng lòng với chính mình vẫn muốn “ngông” với đời. Thạch Quỳ “ngông” không chỉ khẳng định cái tôi mà còn đúc cái tôi ấy thành bức tượng đá “trơ trơ” giữa cõi đời-thơ. Nói về cái “ngông” Đặng Tiến cho rằng: “Ngông nơi nhà thơ ở đây là một tâm thế một ứng xử với đời với người và cảnh. Ngông nơi đây là một phong thái lối xử lý không gian thời gian và nhân gian bằng Thơ. Ngông ở đây là Sống Thơ”[3]. Thơ Thạch Quỳ có tâm thế “ngông” đó. Ông hóa giải cô đơn bằng sự vượt rào đối diện với thực tại. Cái tôi vô cùng triết lý: “Học cách sống giữa rừng hoang hú gọi/ Học cách ngồi trên đá lặng im/ Cách đứng/ Cách đi/ Cách kiếm/ Cách tìm/ Những phong cách/ THIÊN NHIÊN/ SÁNG THẾ...” (Vâng đúng vậy!). Thì ra nhà thơ tìm đến cô đơn để tịnh tâm để tiến tới cõi Thiền. Thiên nhiên trong sáng là nguồn bồi đắp tinh thần vô giá cho những người nghệ sĩ như Thạch Quỳ. Từ điểm nhìn của cõi Thiền nhà thơ còn vận vào mình những trăn trở thời đại:

Nước ba lần hóa kiếp

Vẫn trong cuộc luân hồi

Người mấy lần hóa kiếp

Cho nên một kiếp người?

(Nước)

     Vạn vật nằm trong sự tuần hoàn vô tận. Con người lại hữu hạn khi chọn chiều vec-tơ. Sự đối sánh những lần hóa kiếp giữa nước và người là một khoảnh khắc đốn ngộ của nhà thơ. Cõi trần vướng lụy đâu dễ dàng hóa kiếp. Vì thế nhà thơ mừng cho bạn cũng là lẽ hiển nhiên: “Bác Phùng về dưới mộ/ Hẳn tâm đắc một điều/ Diêm vương và địa ngục/ Rất rạch ròi ghét yêu!” (Bác Phùng dưới mộ).

     Bàn về chuyện sướng khổ Nguyễn Khắc Phê cho rằng: Nhà không có gì đáng giá đêm nóng cứ mở toang cửa mà ngủ (Tản văn: Thử bàn chuyện sướng khổ). Như vậy mới sướng mới thoải mái. Thạch Quỳ cũng vậy chẳng bận tâm gì sống thoải mái với đất trời. Chọn lối là tự ở ta:

Ta bát ngát thôn quê từ làng đến phố

Và  sống ở ngôi nhà không cửa sổ

Bốn tường kia cửa bít kín mất rồi

Lối  đi về ta mở. Tự ta thôi!

(Cửa sổ)

     Cách thể hiện cái tôi tự do cũng là cách Thạch Quỳ hướng tâm vào cõi Thiền. Cái tôi cô đơn đã tìm được ngôi nhà trú ngụ.

     Khi nhà thơ “Thiếu vốn sống tác phẩm sẽ nhạt nhẽo èo uột bất túc. Thiếu vốn chữ tác phẩm sẽ thô vụng sống sượng suy dinh dưỡng” (Lê Đạt)[4]. Cả vốn sống và vốn chữ đều chất đầy trong cái bụng thơ của Thạch Quỳ nó chứng minh cho một quan niệm sáng tạo nhất quán. Giao thoa giữa thể thơ truyền thống và hiện đại giữa chuyện xưa và chuyện nay giữa giọng điệu thân mật và giọng điệu lạnh lùng... ít nhiều Thạch Quỳ đã xây nên bức tượng thơ cho mình. Một bức tượng đá cô đơn bản ngã: “Trơ trơ tảng đá/ Đá đổ mồ hôi/ Biết hay không biết?/ Lầm lì mồ côi” (Tảng đá). Một bức tượng không vô cảm vô hồn trước những biến động cuộc đời. Nó phân biệt rạch ròi giữa cái ghét và cái đáng yêu:

Ghét cái không đáng ghét

Yêu cái chẳng đáng yêu

Thà  làm quách tảng đá

Nằm vô  tư trong chiều

(Bác Phùng dưới mộ)

      Trong sự giao thoa ấy hình như Thạch Quỳ chưa dứt khoát về góc độ sử dụng biện pháp nghệ thuật ngôn từ để khắc đậm vào tâm thức độc giả. Sự nhập nhằng này giảm bớt lưu lượng cái ngông thi sĩ. Cuồng tín và khai phóng  ngôn ngữ là con dao hai lưỡi. Nếu sử dụng đúng trạng huống tâm lý ngôn từ sẽ tăng lên sức mạnh bội phần. Cái ngông thi sĩ trở nên độc chiêu đắc địa.

      Tuy vậy cái tôi dẫu cô đơn nhưng luôn luôn trong tâm thế nổi loạn hướng đến tự do đã làm nên dấu ấn cho “Bức tượng”. Có thể nói Thạch Quỳ là một nghệ sĩ điêu khắc biết sắp đặt cấu trúc sao cho “Bức tượng” của mình hài hòa hợp lý trong không gian thơ.

      Mở  đầu tập thơ là khát vọng được trở thành bức tượng như xưa chứ không muốn là “người bị đuổi giữa chiêm bao” kết thúc là một tảng đá kiên cố trơ lì. Cách trình bày thế này Thạch Quỳ đã nói hết duyên thơ trọn vẹn trước sau như một của mình. Hóa thân vào bức tượng không phải là sự chối bỏ cuộc sống mà để trêu ngươi để thách thức với thời thế. Đây cũng là cách nhà thơ khẳng định cốt cách thi sĩ của mình đúng như cái tên của nhà thơ: Thạch Quỳ - “một hòn đá thơ”.

Đồng Hới 28-1-2011

H.T.A 

---------------------

[1]. Thạch Quỳ Bức tượng NXB Nghệ An 2009.

[2]. Nguyễn Đức Tùng Thơ đến từ đâu NXB Lao động 2009 tr 424.

[3]. Đặng Tiến Thơ - thi pháp & chân dung NXB Phụ nữ 2009 tr 55.

[4]. Lê Đạt Đối thoại với đời và thơ NXB Trẻ 2008 tr 66.  

 

Phongdiep.net

More...

Nhà thơ Thạch Quỳ đã từng đến nơi LÊNIN đi đày để ... thăm con - Tô Hoàng

By VƯƠNG CƯỜNG

 

Tôi đọc TN.com thấy bài này của anh Tô Hoàng viết về anh Thạch Quỳ khá trung thực vì chuyện này tôi có nghe anh TQ kể lại. Thật ra những câu Tiếng Nga thông thường anh học thuộc rồi khi cần là hỏi người Nga. Riêng hai câu thơ trích bị sai tôi có sửa lại. Hai câu : Đất nơi đây đào nơi nào cũng đỏ.
Đập đá ra có ánh lửa ngời...
Được sửa: Đào đất lên nơi nào cũng đỏ / Đập đá ra có ánh lửa ngời...
Mang về lưu làm tư liệu gia đình.
VC


Mấy tháng nay trên trang TN.com đã có 2 bài của các tác giả Đàm Quỳnh Ngọc và Thái Dõan Hiểu viết về con người và tác phẩm của nhà thơ Thạch Quỳ. Tôi xin góp thêm một câu chuyện nhỏ về anh mong cho bức chân dung nhà thơ xứ Nghệ này hòan chỉnh sinh sắc hơn...

Trước khi được gặp và làm quen với Thạch Quỳ trong đợt sang Liên Xô dự lớp tập huấn 3 tháng tại Học viện Văn học Gorki ở Moskva thú thật tôi chỉ biết tới anh vỏn vẹn qua hai câu thơ: 
Đào đất lên nơi nào cũng đỏ
 Đập đá ra có ánh lửa ngời...
Đâu đó từ cuối năm 1968 trở đi máy bay Mỹ phong tỏa gắt gao đọan đường số 1 từ cầu Hàm rồng vào tới phà Bến Thủy. Lính tráng bổ xung cho chiến trường Bắc Quảng trị -Đường 9 hoặc vượt Trường Sơn vào các chiến trường sâu đành đi qua đường Bò Lăn lên Thanh Chương Đô lương đến một trạm nào đó ở Nam Đàn thì nghỉ lại chờ tới tối sẩm hôm sau đi tiếp. Qua một đêm bị xe lắc ngủ gà ngủ vịt khỏang 8giờ 8 rưỡi sáng hôm sau chúng tôi bừng tỉnh trong tiếng lao xao họp chợ ngay phía bên kia bờ giậu. Những tiếng chào mời mà cả xen lẫn tiếng lợn kêu vịt cạc giữa thời buổi chiến tranh nghe sao như muốn níu kéo cánh lính chúng tôi trở về với cuộc đời thanh bình yên ả đến vậy. Càng lạ lùng hơn tiếng chào mời mà cả kia lại theo một đơn vị tiền tệ xa xưa hình như đã biến mất từ lâu: một tiền một tiền rưỡi có bán không?... Nhào dậy khỏi võng chạy ra sân định tìm tới giếng nước rửa mặt đã nghe thấy tiếng cười tung tóe của các cô gái. Chao con gái vùng này mới xinh làm sao? Áo nâu non sẻ tà để hở một mảng lườn  hồng hồng săn chắc; mắt tròn đen thăm thẳm; đôi môi tươi tắn lúng liếng nụ cười ghẹo trêu ! Chạy ngược vào nhà lấy gương ra soi. Đến lượt chúng tôi phá ra cười: Quần áo mặt mũi râu tóc thằng nào thằng nấy nhuộm sậm bụi đất đỏ ba dan! Thứ đất đỏ ấy mãi những năm còn sống sót sau này mới hay là rất đặc trưng cho vùng Thanh Chương Đô Lương. Chưa kịp định thần các cô gái xứ Nghệ dạn dĩ đã ào tới kéo tay chúng tôi đến bên những chiếc giếng đá ong đáy sâu tun hút múc những gàu nước mát lạnh gíup chúng tôi gội đầu rửa mặt. "Đất đỏ xứ Nghệ rứa đó! Các anh đi đâu ở đâu cũng đừng quên đất đỏ quê em nghe ..". Các cô gái ríu ran. Hứa hẹn. Ghi vào sổ lưu niệm quê quán địa chỉ của nhau. Để khi chiều tắt nắng đành bịn rịn dùng dắng chia tay. Và cho tới khi tóc bạc da mồi cũng không tìm được dịp may nào trở về nơi trú quân có những chiếc giếng đá ong có phiên chợ buổi sáng kỳ lạ và những con đường đất đỏ mỗi khi trời đổ mưa lòng đường đỏ sậm lại như một thân gỗ mới sẻ.. Đành bám lấy hai câu thơ của Thạch Quỳ mà tự làm dịu đi những nhung nhớ tiếc nuối của một thời trai trẻ...
Thạch Quỳ lên lớp nghe các nhà giáo nhà văn Nga thuyết trình đâu đó chưa đầy nửa tháng anh bỗng ngỏ ý với lớp trưởng nhà thơ Lê Chí và phiên dịch viên là tôi muốn đi thăm người con trai đang lao động xuất khẩu đâu đó tận Sibêri .Anh đưa tôi xem chiếc phong bì ghi địa chỉ nơi làm việc của con trai anh. Tôi quen biết nhiều cánh lao động Việt nam xuất khẩu đang làm việc tại các vùng ngọai ô Moskva như Klin Naghinxcơ.. hay xa hơn như Riadan Togliatti..nhưng cái địa danh nơi con trai nhà thơ làm việc sao rất xa lạ chưa từng nghe thấy bao giờ. Nhà thơ Lê Chí nhờ tôi tìm hiểu xem nơi đó xa gần phương tiện đi lại ra sao? Buổi chiều tôi tìm xuống thư viện nhà trường   không khó khăn gì tôi đã thu thập được một lượng thông tin dữ dằn. Điều đầu tiên cô thủ thư Nga cho biết thị trấn ấy ở cách Moskva khỏang 3500 hay 4000 cây số. Đi máy bay thì không kể làm gì đáp tầu lửa chừng mất cả nửa tháng vừa đi vừa về. Cô gái Nga nheo nheo mắt cười cho biết điều thứ hai còn ghê gớm hơn: thị trấn ấychính là nơi xưa kia dưới thời Sa Hòang trước ngày Cách mạng tháng Mười bùng nổ vị lãnh tụ của giai cấp vô sản Nga Vladimi Ilitch Lê nin đã từng bị đi đầy. Nhiều năm trôi qua bây giờ tôi không còn nhớ đích xác tên cái thị trấn nằm giữa vùng băng tuyết heo hút Siberi nhưng tôi đoan chắc với các bạn nó đã được ghi rành rõ trong cuốn Lịch sử Đảng Cộng sản Liên Xô hoặc Tiểu sử Lênin! Nghe tôi báo tin ấy không chỉ đòan trưởng Lê Chí mà các đòan viên như Trung Trung Đỉnh Chu Lai Bế Kiến Quốc Pờ Sảo mìn Vũ Quần Phương Trần Mạnh Hảo Ngô Thị Kim Cúc...đều phát hỏang cả lên. Đường xá xa xôi cách trở như vậy nhà thơ xứ Nghệ lại mới ra nước ngòai mới đến nước Nga lần này là lần đầu tiếng Nga hòan tòan không rành. Nhỡ anh lạc đường hoặc đau ốm cảm mạo thì sao đây? Cũng không ai có thể bỏ dở chương trình tập huấn để tháp tùng anh cả. Còn chuyện nhờ vả nhà trường trợ giúp xem ra rất phiền phức lôi thôi. Đòan trưởng Lê Chí nói với chúng tôi cùng xúm vào khuyên Thạch Quỳ mau gạt phắt dự định đó đi. Nghe vậy Thạch Quỳ nổi quạu :
-Tau sang đây đi học là phụ đi thăm con là chính-Thạch Quỳ thủng thẳng nhưng cương quyết -Bọn mi đặt vào địa vị tau mà coi- con làm ăn luơng bổng ra răng sống chết ra răng thằng cha không hay liệu ngồi học chữ có vô đầu?
 Ai đó nhẩy vào cuộc:
-Đấy là nơi xưa kia cụ Lê Nin bị đi đầy ông biết chứ ?
- Ông Lê Nin bị đi đầy ở đó đâu có chết mà vẫn trở về làm được cả một cuộc cách mạng.Bay dọa tau tau nỏ sợ mô!
Cứ thế ! Nhà thơ không chịu thua ai.
 Ba ngày sau Thạch Quỳ khoe Lê Chí và tôi tấm vé tầu anh đã mua. Anh kéo tôi ra một góc móc túi trao cho tôi một tập vở học sinh. Tôi chưa biết chuyện gì xẩy ra nhà thơ nói luôn:
-Sách XIN ĂN đây! Tau học tập bọn giặc lái Mỹ đó mà! Chương mục đã chia đàng hòang. Phía tiếng Việt tau đã ghi rành rõ mi dịch cho tau qua tiếng Nga..
 Chờ Thạch Quỳ đi khỏi tôi lật từng trang cuốn vở tập học trò mà không khỏi bật cười. Cuốn tập được chia như một thứ tự điển có những tiểu mục hẳn hoi tên tiểu mục ghi bằng bút đỏ. Ví như: XUẤT XỨ LẠC ĐƯỜNG MẤT TIỀN -XIN ĂN MẮC BỆNH. Dưới mỗi tiều mục là những dòng chữ Việt xếp thành hàng ngang tôi sẽ giúp anh chuyển ngữ sang tiếng Nga. Ví như ở tiểu mục XUẤT XỨ. Tên: Thạch Quỳ. Công dân: Nước Cộng Hòa Xã hội chủ nghĩa Việt nam. Nghề Nghiệp: Nhà thơ. Công tác: Hiện đang theo học khóa bồi dưỡng viết văn tại Viện văn học Gorki. Địa chỉ cần liên hệ: Thành phố Moskva. Đường phố...số nhà.. Điện thọai...Ví như tiểu mục MẤT TIỀN-XIN ĂN. Lý do xin ăn: bị mất sạch cả tiền. Đã chịu đói mấy... ngày. .Cám ơn đã nuôi sống tôi...ngày. Mua cho tôi tấm vé trở về Moskva và cung cấp cho tôi ...ngày thực phẩm nước uống.. Ví như ở tiểu mục MẮC BỆNH. Thấy người ớn lạnh hâm hấp sốt. Tôi không mang theo nhiệt kế hãy đo nhiệt độ cho tôi. Tôi bị đau bụng đã... ngày không khỏi. Tiền sử nghi bị lóet bờ cong dạ dày...
 Hôm sau khi trao lại cuốn tập vở cho nhà thơ tôi sững người hỏi anh:
-Tôi dịch chuẩn cả rồi! Nhưng anh không biết tiếng Nga sao anh phát âm nổi để người Nga hiểu ?
 Nhà thơ nạt nộ:
-Học hành chi cho lắm mà vẫn ngu rứa? Tau không cần đọc tiếng Nga của bọn bay. Cần nói điều gì tau tìm câu tiếng Việt mà dùng ngón trỏ di ngang sang câu mi đã dịch qua tiếng Nga người Nga khắc hiểu.
 Nói như cánh M.C bây giờ tôi sẽ huơ tay cao trên đầu và reo vang: Vâng với cuốn số tay ĂN XIN đó Thạch Quỳ đã vượt qua cả một đọan đường rất dài đã đi cắt ngang cả nước Nga mênh mông để tìm tới cái thị trấn xa xôi ở vùng Sibêri tuyết trắng kia thăm cậu con trai.Mũ lông thả cả hai dải che tai xuống buộc chặt ở cầm;chiếc áo dạ màu nâu vừa cũ vừa đã sờn rách không rõ nhà thơ mượn ở đâu buông vạt lệt xệt chấm gót chân; chiếc balô lép kẹp lắc lẻo phía sau lưng nom nhà thơ xứ Nghệ vừa giống một nhà truyền giáo Nga thế kỷ 16 vừa giống một gã mudic Nga nghèo đói đương đại cứ thế lên tầu nhà thơ xứ Nghệ nhắm hướng Đông thẳng tiến! Một ngày ba ngày một tuần trôi qua vẫn biệt vô âm tín. Thuở đó chưa hề có điện thọai di động. Tàu chạy băng băng chắc nhà thơ cũng khó tìm ra chòi bưu điện ở những ga xép trên đường mà nhắn tin cho chúng tôi. Hoặc anh đã quyết chí đi việc thông báo anh đã đến đâu khỏe hay bệnh-theo anh cũng là điều vô ích?
 Nói thành thật khi chúng tôi hầu như quên bẵng sự hiện diện của Thạch Quỳ trong khóa học lần đó nhà thơ bỗng sừng sững xuất hiện ngay trước mặt chúng tôi. Vẫn như một nhà truyền giáo hay một gã mudic song vui vẻ tươi tắn đầy tự tin Thạch Quỳ lặp đi lặp lại chỉ một câu: " Bọn bay thấy chưa! Có chết được mô ? ".
 Nhà thơ cho biết con trai anh khỏe mạnh lương bổng hậu hĩ ăn uống đầy đủ lên 3 ký không những không xin tiền bố mà còn gửi bố tiền để bố mua quà mang về cho mẹ cho các em. Có ai đó cất tiếng hỏi cả đọan đường đi về có lúc nào anh cần phải dùng tới cuốn sổ XIN ĂN không nhà thơ cười hơ hơ hồn nhiên tay xua xua thủng thẳng kể cho chúng tôi nghe câu chuyện sau đây..
 Nằm cuộn tròn trên chiếc giường áp sát trần tầu một đêm và nửa ngày nhà thơ bỗng cảm thấy phí thời gian anh quyết định ngay trên tầu phải thâm nhập cuộc sống của dân Nga. Lợi dụng một lúc thuận tiện anh nhẩy xuống sàn tầu vỗ tay vào ngực mình kêu to: " Việt Nam! Việt nam!". Đám hành khách trong toa sững sờ một lát chợt hiểu ra nhẩy cẫng lên hò reo: " Viet nam ! Voina pobeda ! American go home!" ( Việt nam chiến thắng! Mỹ đã xéo về nước !". sau những tiếng reo hò ấy những bình rượu vốt ca ủ trong làn mây bị cói được kéo ra. Cá muối thịt xông khói bơ miếng hành lá rau mùi.. được kéo ra..Ly cụng chan chát. Rượu chảy xuống bao tử ồng ộc. Thêm ly nữa cao hứng nhà thơ xứ Nghệ đập tiếp vào ngực mình thốt ra một chữ tiếng Nga khá chuẩn:"Poet" ( nhà thơ). Lập tức những tràng vỗ tay những tiếng "Ura ura"  rộ lên hưởng ứng.
Thạch Quỳ:
-Tau nỏ biết tiếng Nga nhưng tau đọc thơ tau theo kiểu ông Maiacốpxki.Sợ chi mô! Nghĩa là vung tay ra rút tay vào ngửa mặt nhìn lên trời cúi mặt nhìn xuống đất tiến lên một bước lùi lại môt bước. Đám hành khách Nga hiểu hết những điều thơ mình định nói. Cứ thế lu bù say ngày qua ngày đêm qua đêm. Rượu vốtca và tuyết trắng vùng Sibêri còn gì hài hòa uyển chuyển hơn! Tốp hành khách này xuống ga họ liền giới thiệu tau với tốp hành khách khác. Tầu tới ga họ còn đưa tau tới tận nơi thằng con trai tau làm việc. Đi cũng tưng bừng vui vẻ như thế. Mà về cũng vậy. Chẳng tốn cắc bạc nào!
 Câu chuyện trên xẩy ra vào những ngày đầu đông năm 1988. Mùa hè năm 2001 tôi được đi trong chuyến xuyên Việt với các văn nghệ sỹ tên tuổi do hãng Toyota tài trợ. Mười chiếc xe mới cóng thong dong từ Hà nội đưa chúng tôi lên thăm Nà lừa thị xã Cao bằng hồ Ba Bể sau đó tiếp tục xuôi về qua Hà nội rẽ vào thăm cố đô Hoa Lư Nam đàn-quê Bác. Buổi chiều đòan dừng ở Vinh Hội văn học nghệ thuật Nghệ an mở tiệc khỏan đãi khá thịnh sọan. Tôi nhận ngay ra bóng dáng cao gày cùng vẻ khắc khổ của Thạch Quỳ từ xa. Vốn ngại ngồi chung bàn với những tên tuổi văn chương quá nổi tiếng tôi muốn tới bắt tay anh song lưỡng lự chần chừ. Nhưng Thạch Quỳ đã nhận ra tôi anh chạy tới xiết chặt tay tôi thăm hỏi rối rít. Giữa chừng câu chuyện nhà thơ đột ngột hỏi tôi:
-Còn nhớ chuyến mình tới nơi ông Lênin đi đầy thăm thằng con năm sang Nga không ? Tôi gậtliền mấy cái . Anh vui vẻ tiếp lời- Thằng ấy bây chừ làm ăn khá lắm. Thành ông chủ rồi!
 Tôi chúc mừng Thạch Quỳ và trong đầu bỗng nhớ ngay tới hai câu thơ của anh về đất về đá xứ Nghệ:
Đào đất lên nơi nào cũng đỏ
Đập đá ra có ánh lửa ngời...

More...

THẠCH QUỲ - Người nuôi ảo mộng giữa chiêm bao - THÁI DOÃN HIỂU

By VƯƠNG CƯỜNG


 

THẠCH QUỲ - Người nuôi ảo mộng giữa chiêm bao
THÁI DOÃN HIỂU

     
Thạch Quỳ là nhà thơ rất nhạy bén trong việc nắm bắt thông tin và chóng vánh tìm ra ngay bản chất đối tượng. Anh làm thơ hoàn toàn bằng mẫn cảm thiên phú. Thơ Thạch Quỳ là thứ thơ có phần nhỉnh hơn mọi lý thuyết về thơ.
Có mùi mật trong hoa
Điều đó chú ong vàng cũng biết
Có hương thơm ẩn giữa sắc màu
Cái chuyện này bướm tím biết từ lâu!
Nhưng bạn ạ! Hương trầm trong gỗ mục
Thì ong vàng bướm tím có hay đâu...
(Luận về hoa)
     
Khi làm thơ Thạch Quỳ luôn tìm ra "Hương trầm trong gỗ mục". Đấy là tài năng và cũng là thi pháp nổi trội của anh. Bạn đọc có thể lấy điều ấy làm chìa khóa giúp tiến sâu vào địa hạt thơ ca Thạch Quỳ để khám phá và hiểu biết.Thạch Quỳ đã cho in 7 tập thơ nhưng người không có khái niệm về hai tiếng "tập thơ" thường lấy đơn vị bài làm thước đo bản vị cao thấp thơ mình.

*
     
Thơ Thạch Quỳ là một thứ thơ bản ngã nguyên chất. Nhà thơ luôn luôn tìm cách nói về mình và nhân danh mình để viết. Anh bảo "Thân thể tôi như chiếc cột ăng ten - Vừa phát sóng vừa tự mình rỉ sét". Nhà thơ ráo riết đi tìm cái tôi bị đời đánh cắp đánh tráo đồng hóa giữa một cuộc sống chẳng êm ả chút nào bao giờ cũng gập ghềnh đầy tai biến. Là người có khí phách và cá tính mạnh Thạch Quỳ đã hứng chịu nhiều tai bay vạ gió "Từng đối mặt với bạo tàn chết chóc - Máu trào tuôn sẹo đóng tự trong hồn - Tôi mệt mỏi đến không còn sợ chết - Nhưng vẫn lòng ham sống thật tôi hơn" (Tôi). Thạch Quỳ từng sống trong tâm trạng "Anh đã đi như người trong mộng - Anh đã bơi như người trong sóng" và lâm vào tình huống không mấy sáng sủa "anh đã khô kiệt cùng đá sỏi - anh đã kêu kiệt cùng tiếng gọi - anh đã mơ cạn kiệt giấc mơ" (Cuối cùng vẫn một mình em). Không còn cách nào khác trời thấp nhà thơ buộc phải đi còm "Len lỏi giữa thiên thần yêu quái - Lẽo đẽo bóng mình dị dạng sau chân..." (Đêm vườn rừng). Một sự giằng xé nội tâm quyết liệt ảo giác dày đặc bủa vây Thạch Quỳ "Bàng hoàng giữa một ngày - Mình sống hay chẳng sống?" (Không đề) thi nhân cảm thấy mình rất đơn chiếc "Nghìn năm rồi biển hát - Một bài ca chán nhàm - Tôi nghìn năm trước biển - Dấu chân còn lang thang" (Viết trước biển). Giữa mênh mông tuyết trắng rợn ngợp không bến bờ ở xứ người anh thấy mình chỉ là một "chấm nhỏ giữa bốn bề hư vô" (Tuyết). Từ những chiêm nghiệm vật vã đau đớn đó Thạch Quỳ đã nhận ra "hạnh phúc trang nghiêm trong thất vọng kiếm tìm". Và giữa đời thường nhà thơ khác thường này cũng có lúc bế tắc "Rồi dẫm chân tại chỗ - Tôi quẩn theo bóng mình" buông xuôi tay chán ngán "Tôi chẳng còn chính tôi - Thơ nối dài chi nữa" (Thư). Nhà thơ tự thấy mình là một người thừa giữa nhân thế:
Điều tôi nói chừng Chúa Trời chưa biết
Phật chưa nghe và Trời cứ làm thinh
Tôi nhỏ nhoi tồn tại chính mình
Nhân danh một chính mình tồn tại
(Tự khúc mùa xuân)
Đó là sự "mềm yếu" tinh thần cao cả duy nhất của Thạch Quỳ
Lỗi lầm chủ yếu và lớn nhất của Thạch Quỳ là có khá nhiều lỗi nhỏ. Thạch Quỳ làm chủ ý chí và thành tâm làm kẻ nô bộc cho lương tâm của anh. Người có lương tâm trong sạch giúp định hướng cho cuộc đời vào con đường ngay thẳng tươi sáng và có thể chịu đựng được những thử thách nghiệt ngã.
     
Khi lương tâm bảo thì phải tuân lệnh. Sống đừng để lương tri khiển trách và chớ trốn chạy sự quở mắng của tục nhân. Trước pháp đình của nhân cách chẳng có ai làm chứng trung thực bằng lương tâm. Nó là vị quan tòa thiếu tư cách pháp nhân nhưng lại thừa đạo hạnh. Lương tâm chính trực và tỉnh táo luôn minh chứng cho anh tất cả tốt hơn mọi lời tụng ca hay xỏ xiên xằng bậy.
     
Thạch Quỳ đến với nghề văn thật gian nan. Nhà thơ đã từng kể về công việc làm thơ của anh: "Khoảng 15 năm tôi phải sáng tác trong phòng ngủ tập thể. Lúc 11 giờ đêm họ tắt đèn đi ngủ tôi dùng bút chì để ghi chừng viết mò trong bóng tối. Tôi thức thâu đêm từ đó thành thói quen. Viết văn làm thơ trái với nghề chính nên phải vụng trộm giấu lén và luôn bị khích bác. Nhưng lòng say mê đã thắng. Tôi luôn luôn hướng tới những cuộc cách mạng những vụ bùng nổ trong tâm hồn con người để đến với cái đẹp" (Tự bạch). Thạch Quỳ rất dễ thơ thấy bất cứ cái gì điều gì anh đều nhanh nhẹn nghĩ ra một cái gì đó khác người để viết: thuốc lá tim đàn tế trời hồ Kẻ Gỗ đền Cuông khó ngủ khói tôi... Anh ưa cười. Phiếm luận của anh toàn giọng bỡn cợt chòng ghẹo buông tuồng nhưng mà đau ánh lên chất thông minh quái quỷ.
     
Với thơ Thạch Quỳ có những hình ảnh ví von thật đạt "Trung liên quây như chảo mật đang sôi"; những nhận xét tinh vi "Đỉnh sừng nhô hai hạt nếp trắng tinh" (Trâu đi) "Dưới cao vợi sao dày như nếp nổ" (Tiễn em trai đi vào tiễn em gái đi ra). Nhà thơ như một lão nông quan sát kỹ không bỏ sót đến cả "Bọt trứng vàng gốc lúa bùn sâu nằm sủi tăm"; những hình ảnh về chiến tranh gây ấn tượng "Có thành phố nào như thành phố này không - Chưa thấy nhà cao chói lọi sắc hồng - Đã thấy sắc hồng cười trong gạch vụn" (Gạch vụn thành Vinh). Thạch Quỳ dựng được những thi tứ rút ra từ trong khoảnh khắc hiếm hoi "Những con bê - bom xẻ đôi bò mẹ - Vẫn ngậm nguyên núm vú nhay hoài" (Tâm sự thần sấm sét...) và "Những hàm răng xích xe tăng - Đang nhai nghiến ruộng vườn trong lửa đỏ". Nói về cái khốc liệt của thiên nhiên ở một vùng quê anh tả gió Lào nóng bỏng "Cây trâm bầu gió nhổ rồi - quẳng lên cả rễ ngang trời mà quay" giữa hối hả âm thanh "Tiếng đa đa kêu vỡ đá gầy". Anh có những câu "độc" "Chiêm bao gặp mộ mình không cỏ mọc - Riêng điều này là nỗi sợ của tôi" (Bên lề cỏ Uýtman). Thơ Thạch Quỳ có nhiều câu rắn đanh chứa chất tục ngữ "Giọt mưa gom hạt bụi hóa phù sa" (Gom nhặt trên bãi bom B.52) bên những câu dân dã đầy kỷ niệm tuổi thơ "Trẻ chăn trâu cổ quấn dây thừng - Nhảy và hát khúc đồng dao cúng quắng" (Ghi chép ở đền Khai Long). Nhà thơ hay đặt những câu hỏi oái oăm làm người đọc chau mày sau đó mới vỡ ra nhiều lẽ "Nghìn năm mưa đã từng mưa - Thấm vào viên sỏi hay chưa thấm vào?" (Lời nghìn năm). Bằng cảm quan lịch sử và văn hóa cao Thạch Quỳ có sự nhìn nhận để thể tất nhân tình trước bi kịch nước mất nhà tan của cha con An Dương Vương - Mỵ Châu "Lưỡi gươm ròng ròng máu tươi - Nước mắt ướt đầm yên ngựa - Chỉ có đất với trời và cỏ - Hiểu đường đi của giọt máu người" (Qua đền Cuông ghi chuyện cũ). Thạch Quỳ nghe từ màu sắc nhìn từ âm thanh "Lặng im trên cát con sò - Nằm nghe sắc tím đổi mùa trên lưng" (Làng cát). Tâm hồn nghệ sĩ đó luôn lay động tỉnh thức thâu tóm được cả trời biển trong một ngấn sóng trên bức tường bất động "Với Lan Châu ngấn sóng ánh trên tường - Luôn luôn động theo nhịp trời nhịp biển". Thạch Quỳ hào hoa với Huế "Xao xác cả trưa hè trong phượng chói" (Huế) cảm được "Thuyền đêm nằm đợi bóng trăng hoang" (Thôn Vỹ) hiểu được "một trăng suông nhạt chòng chành đáy sông" thương được "Cái chân ai bước giữa vòng nam ai" (Đêm sông Hương).
Cũng như Cao Bá Quát Nguyễn Công Trứ Tản Đà Tú Xương... Thạch Quỳ luôn thấm thía cái sự nghèo của mình. Nghèo thì hèn. Giàu có quá là ăn cắp nhưng cùng khốn quá là bởi bị đánh cắp. Luân lý trọng lợi hủy hoại vẻ đẹp của tâm hồn vô hiệu hóa nhân đức bêu riếu lịch sử và treo một chiếc gương tối tăm cho lớp trẻ. Ai đó cùng than nghèo khó sống giàu khó chết. Người nghèo thường sống rất tử tế. Đừng khinh nghèo chớ cậy giàu. Người Anh bảo "Nghèo không phải là điều xấu hổ nhưng xấu hổ vì nghèo mới là nghèo". Thạch Quỳ có hai câu thơ vẽ chân dung mình rất Nghệ: "Cái nghèo đội nón cời và nhón chân đi từng bước - Cười sưa răng trên miệng ấm sứt vòi" (Cái nghèo). Anh chỉ tên vạch mặt cái nghèo "Mày núp trong vừng trán mẹ răn reo - Mày ẩn dưới gót chân em nứt nẻ - Mày luồn qua trăm ngàn mối chỉ - Để nằm trong mảnh vá áo con ta" "Đêm ta ngủ thì mày hóa kiến - Bò nôn nao trong ruột đói của ta". Anh thảng thốt phát hiện ra "cái nghèo có nọc - Đốt cha ông từ thuở chẳng chăn màn" "cái nghèo xơ trên bộ cánh làm sang - Cái nghèo xác lại nằm trơ đáy đĩa" (Cái nghèo). Sách Luận ngữ dạy "Nghèo không oán mới khó giàu không kiêu còn dễ". Nghèo túng nhưng vẫn chơi sang "Nhà thơ nuôi họa mi - Hót xanh trời trứng sáo" vẫn lãng mạn "Tôi chờ ai nữa? Mùa thu rộng - Gió thả bên trời lá liễu bay" (Mây trắng mùa thu) vẫn cốt cách phong lưu "Mơ một lần quẫy đạp - Ngập chìm trong sóng xanh" (Cỏ) vẫn trẻ trung phơi phới "Cỏ đừng già cỏ nhé - Dù tuổi thơ qua rồi - Đất giữ gìn cho cỏ - Cỏ giữ gìn cho tôi" (Cỏ) vẫn hây hây lồng lộng hồi sinh khi nhìn ngắm:
Con chim hót nhả hạt cây
Tiếng chim xanh ở trong tay người trồng
Qua bạch đàn đã đến thông
Thấy cây đang độ đuôi công múa xòe
Thấy cây thắp nến bốn bề
Rưng rưng nghìn búp hướng về trời cao
Mùa xuân thả nắng chiêm bao
Thả mưa bụi phấn bay vào rừng thông
Mùa xuân thả nắng mật ong
Cho cây lá nhọn đứng hong nhựa vàng
...
Lá thông là thực hay mơ
Nửa buông như chỉ nửa mờ như mây.
(Lục bát về thông)
May thay cái nghèo là nguồn năng lượng kích thích sáng tạo nghệ thuật. Nhà thơ vẫn cứ mộng du giữa đời thực đang chực giơ nanh vuốt "Cỏ biếc bờ xanh đường sá rộng - Mình tôi lạc giữa ngõ ra vào" (Mây trắng mùa thu) vẫn thủy chung với thơ "thỉnh thoảng nàng thơ ghé đến - Rồi lướt đi không biết đã về đâu..." (Gửi em); vẫn phấp phỏng với người tình bé nhỏ:
Trời đã tết. Khói xanh mờ bụi nước
Góc vườn con hoa mận đã đơm khuy
Lòng như đất lặng thầm mơ dấu guốc
Cỏ thanh thiên hoa trắng đợi em về.
(Đợi em ngày giáp tết)
Vẫn yêu một tình yêu "dan díu" say đắm run lên như thuở ban đầu mặc cho "nhỡ bước chân qua" mặc cho "Em quay lại đã trắng mùa trên tay..." (Bước xuân) phó cho quy luật của trái tim nổi loạn:
Có một nửa đang đi tìm một nửa
Như vầng trăng ngoài cửa phía trời xa...
Anh yêu em hơn thần thánh yêu nhau
Một khẽ chạm tay rung toàn thân thể
Và bởi vậy tình yêu trần thế
Đủ để thánh thần mơ ước trên cao
(Không đề)
Đã thế người vẫn cứ cao giọng lý sự:
Cuối ngày tôi sót lại em
Cuối em sót lại trong đêm ánh đèn
Giấc mơ mở lối cái nhìn
Ta khép mắt thấu thị miền không ta.
(Đêm)
Thạch Quỳ còn ráo hoảnh tự bào chữa đổ riệt cho tất cả chỉ là do "Muốn thoát khỏi tình yêu - Thoát tình yêu chẳng dễ" (Không đề) để trốn tránh trách nhiệm.
Là nhà thơ phải đãi quặng tìm vàng Thạch Quỳ viết về cái lao tâm khổ tứ của mình khi hóa thân "Viết viết rồi lại viết - Vắt kiệt cả máu mình - Tình yêu đặt lên giấy - Tâm hồn thì trống trênh" (Nhà thơ). Lao động nghệ thuật của nhà thơ là thế đấy gian nan như kẻ vượt cạn như người đàn bà đẻ mà không có con trong bụng để rặn "Tôi gọi hồn về trong những câu thơ - Giam ngục tối con chữ - Hồn ơi hồn hãy ở tù - Để xác tôi yên giấc ngủ". Trong trạng thái cô độc âm thầm trọn vẹn theo nhau như cái bóng cùng mái đầu bạc chắn ngang cuộc đời chỉ có điều là "Thân thể không tan thành khói được" (Bài ca thuốc lá) trái tim nhạy cảm Thạch Quỳ "Đều đặn đập bảy mươi lần một phút - Xâu thời gian thành chuỗi hóa đời anh" (Trái tim). Tim nhà thơ mềm nhưng rắn nó chẳng bao giờ lãng quên nhân thế trong ngực lớn bồi hồi của anh "Trái tim nói những điều hệ trọng - Cả những điều ta tưởng rất vu vơ" (Trái tim). Khi bóng chiều chạng vạng phủ lên tuổi tác Thạch Quỳ tổng kết nửa phần đời của mình:
Nửa ngửng đầu ngóng tìm cái Đẹp
Nửa cúi đầu xoay tìm cái ăn
Nửa lụy yêu ma nửa lụy thánh thần
Còn một mái tóc đốm bạc
(Nửa phần đời)
Người ta kháo nhau ở đâu đó rằng Thạch Quỳ sống ngông thơ ngông (!?) lãnh đạo không ưa và những người sống an phận dễ ngán? Tại sao lại không ngông được khi trần trụi giữa đời mọi giá trị đều bị đảo ngược. Một Tú Xương mới tất yếu phải được mọc ra là lẽ đương nhiên có gì phải phàn nàn cay cú. Chính Thạch Quỳ đã tự thú để bảo vệ mình "Có gì như có lỗi - Mà có lỗi gì đâu" (Cò). Giữa một xã hội "Người mang hình đá - Đá mang hình người" (Tảng đá hình người) anh kinh hồn nhận ra cái gì cũng lai từ con gà hạt gạo đến cả "Thơ phú thị truờng dần lai kinh tế - Nửa hồn ta lai nửa hồn mình". Sống trong một thế giới rối ren bị xáo trộn "Cái mất đi hú gọi không về - Cái còn lại trơ mòn sỏi đá" Thạch Quỳ đau cái đau của người mất sạch gia tài văn hóa. Sự nghiệp Thạch Quỳ bò như rùa còn cái nghèo thì luôn bá vai bá cổ nhà thơ. Xưa nay "nghệ nhân nan phú" (nghệ sĩ khó mà giàu). Chìm nổi là vận hạn của tài tử. Anh hoa phát tiết thường là tai vạ mà miệng là cửa ra của họa phúc. Nhiều người thương thành phúc lắm kẻ ghét thành họa. Không một hạnh phúc nào là không chứa tai ương không vinh quang nào lên đến tột đỉnh mà lại không bị tai ách quật nhào. Người mạnh thăng hoa trong bất hạnh kẻ yếu lụi tàn trong vận may. Thành thử thơ Thạch Quỳ chứa biểu tượng không phải hai mà nhiều mặt là một tất yếu của nghệ thuật. Cái ưu thế này bỗng chốc trở thành cái thất thế của Thạch Quỳ lỗi đâu phải ở nhà thơ mà lỗi tại người nhận thông tin có tên là Đố-Ky-Ấu-Trĩ. Bởi thế cái án "Ngục văn tự" vẫn còn là chuyện kể dài dài đeo đẳng hành tội các kẻ sĩ chân chính tồn tại hàng nghìn năm tới nay. "Là người nuôi ảo mộng giữa chiêm bao" Thạch Quỳ chán nản quả quyết khẳng định "Cuộc đời tôi thật nhất vẫn là mơ...". Anh nói vậy mà đâu phải vậy! Từ khởi thủy con người hình thành cách sống bài học vỡ lòng đầu tiên là tính lạc quan. Cái lôi cuốn nhất trong đam mê cá nhân là hy vọng. Nó vực ta dậy nuôi dưỡng xuýt xoa cùng ta những cay đắng mùi đời. Hy vọng thường chen lấn nằm ngay cả trong tuyệt vọng. Phẩm tiết của người có tâm hồn lớn là luôn hy vọng đẩy lùi sự tuyệt vọng. Thật là bất hạnh và khốn khổ cho ai đó chẳng biết ngày mai mình phải làm gì. Với họ hy vọng là giấc kê vàng của kẻ điên rồ khi thức giấc. Ở đâu có cuộc sống ở đó có hy vọng. Chớ ảo vọng vào ai đó đừng vọng tưởng vào một cái gì quá sức. Kỳ vọng thái quá chỉ tạo ra sự gạt gẫm mình bắt ta phải trả giá. Trên trường đời nếu chẳng may sa chân rơi xuống vực thẳm thì tuyệt vọng sẽ nhân đôi lên sức mạnh của chúng ta nếu biết cách chế ngự nó. Tuyệt vọng là bà đỡ của kẻ cố cùng. Và rồi hy vọng sẽ làm cho vết thương thành da hy vọng xua đuổi mọi sự khốn quẫn. Còn sống còn hy vọng. Có hy vọng có tất cả. Biết nhìn thẳng vào tương lai thì sẽ không bị hối hận bởi quá khứ. Nhà thơ hãy kỳ vọng ở chính mình!
Thạch Quỳ vẫn hy vọng trong đợi chờ "Nửa phần đời chong mắt đèn xó tối - Nửa phần đời khép mắt ngóng ngày lên" (Nửa phần đời). Giằng co giữa cơm áo và thơ thi nhân vẫn chưa mất niềm tin ở quy luật sống:
Nghìn năm biết có còn không
Hoa trên đá phấn trên thông ghẹo người...
Tháng năm lần lữa đắp bồi
Lặng im để cỏ nói lời nghìn năm.
(Lời nghìn năm)
Thạch Quỳ rất thích ngao du với văn nhân tài tử và trong lúc chơi anh đã rút ra được phần cốt tủy trong văn nghiệp và tính cách của họ. Với tiền nhân Thạch Quỳ mộ đạo Nguyễn Du "Cụ đi tìm chân kinh - ở thứ kinh không chữ" (Viết bên mộ Nguyễn Du). Với bạn văn cùng thời anh ưa chất lãng tử chịu chơi ở Nguyễn Trọng Tạo "Tản mạn một thời - Một thời tản mạn - Dấu giày cát bụi - Lấm đầy thủy tinh" (Tặng Nguyễn Trọng Tạo). Anh khâm phục sự cần mẫn miệt mài viết viết và viết ở Ông Văn Tùng "Dù ảo thuật với văn chương kiêng kỵ - Thì nhà văn vẫn là kẻ xuyên tường" (Nhà văn và bốn bức tường). Với Nguyễn Duy anh yêu cái mộc mạc đến là dân dã ở nhà thơ này "Giả say thơ phú ậm ừ - Thật say ngã cái đứ đừ bờ ao" (Rượu làng vang). Với Võ Văn Trực anh nghĩ tiếp đào sâu tới cái kiếp người với nghiệp chữ của tác giả Nghĩa địa làng nổi tiếng "Mai ta thành bụi - Biết tên là gì - Đám tro chữ nghĩa - đen trời âm ty - Mai thơ thành bụi - Biết tên là gì - Đám tro chữ nghĩa - Mang hồn đam mê" (Bụi)... Đùa cùng bạn bè bao giờ Thách Quỳ cũng cất giọng ba lơn cười hóm dễ nghe nhưng với người đã khuất như nữ sĩ tài hoa Xuân Quỳnh giọng thơ của anh lại chùng xuống ngậm ngùi thành kính trước người đồng thanh tương ứng "Bây giờ gió rối trong màu cỏ - Tôi rối tóc mình trước bạn tôi" "Cỏ xanh tròn nấm mộ - Yên lặng bóng chiều rơi" (Nghĩa trang chiều).
Thạch Quỳ thực sự là nhà thơ thứ thiệt của làng quê. Sau Nguyễn Bính Đoàn Văn Cừ Anh Thơ Bàng Bá Lân cùng Ngô Văn Phú với Trần Đăng Khoa. Thạch Quỳ đang góp phần hoàn chỉnh bức tranh quê ở phương diện tả trực tiếp công việc nông tang nặng nhọc cày cấy gieo trỉa gặt hái giữa mù mịt thiên tai hạn hán lụt lội bão tố hoành hành khắc nghiệt... Đây là đất quê hương Đô Lương của nhà thơ "Đào đất lên nơi nào cũng đỏ - Đập đá ra có ánh lửa ngời"; nơi đó "Hạt cát biết mọc cánh bay - Làm mưa trên mái suốt ngày mưa khô" (Làng cát); nhưng chốn ấy có những nàng thôn nữ  xinh đẹp duyên dáng đảm đang nổi danh gái Phường Lường "xắn quần ngang gối giục trâu cày" giỏi lội bùn cấy lúa và cả "Ghẹo khách qua đường mượn câu hát dặm - Che nón cười gương mặt đỏ như say"; nơi đó có những sản vật quý "Vải mật Thanh Lưu chín mọng đầu cành" có những địa danh Khả Lưu thời Lê Lợi dàn quân huyết chiến cùng giặc Trương Phụ có danh thắng "Vực Cóc đây thăm thẳm một hang trời - Bè nứa chui vào ngỡ đi về xứ khác - Nhớ lúa Ba Ra mỉm miệng cười - Trắng xóa muôn nghìn thác bạc" (Đất Đô Lương). Là thầy giáo dạy toán học Thạch Quỳ tả tiếng chim tuyệt đối chính xác anh lắng nghe bằng cả tâm hồn: "Tiếng dú dị trầm đều như đất thở" "Tiếng gà gáy cong như vòi hái" "Tiếng vàng anh tròn như đồng tiền - Gieo tít tận trời cao gieo xuống" khi lại là "Tiếng vàng anh vàng lựng trái xoan..." "Con cú rúc sôi tròn như thắng mật" "Nghe cu đất hót tròn vo hạt đỗ" "Chiền chiện hót thơm lừng mao lúa" "Chèo bẻo hót xanh trời trên ngọn mít"... khi quan sát anh huy động tất cả các giác quan "Tiếng chim chiền chiện không tan vào im lặng" "Tiếng chim len trong lá hé mắt nhìn..." "Con mách khách nhảy cành cam qua cành khế" "Tiếng con chim kẹt võng nhớ lời bà" "Con chim hét kêu đêm mẹ ra đóng cửa - Con quạ kêu ngày bà lo đàn gà toi - Tiếng chào mào ríu rít những trưa vui". "Lúa chín sẫm trên lưng con cu vày hót xù lông cổ - Nắng lên rồi tu hú gọi bâng khuâng" "Buổi cày trưa bìm bịp gọi trong lùm" "Tiếng khướu đất hót từ cái mỏ khum khum" "Con sáo hót làm đầu ta ngoái lại" "Bọn giết người không thể hiểu tiếng chim đâu - Ta lấy tiếng chim làm mật lệnh"... Những lúc ấy ta thấy Thạch Quỳ có miệng ngậm và tai mở. Nghe tiếng hàng trăm loài chim hót chộn rộn mà phân biệt được rạch ròi tinh tế đến vậy để rồi hạ được một nhận xét có tầm khái quát cao "Giữa cuộc đời lẫn lộn cả buồn vui - Tiếng chim cũng tiếng lành tiếng dữ" (Tiếng chim). Phải là người gắn bó sống nhiều ở làng quê say mê máu thịt để tâm quan sát kỹ Thạch Quỳ mới viết có chiều sâu và thi vị đến thế. Cái biết quyết định cái thấy cái hay của Thạch Quỳ thuộc về vốn sống kinh nghiệm tài năng tấm lòng nhân hậu của anh. Trực giác thi ca của Thạch Quỳ thường nảy nở bên trong tiềm thức.
Tiếng chim rót làm mầm cây mở uống
Sắc màu xanh tiếng hót cũng xanh
Tiếng chim treo trên quả chín rung cành
(Tiếng chim)
Nhà thơ làm thơ gieo bằng các con chữ chung. Người thưởng lãm thơ phải lấy cái thâm tình nồng hậu của riêng mình tự tâm đắc để thấu triệt cái lẽ ở chỗ tác giả nói thầm lúc ấy ta mới mong mở được cánh cửa để nhìn vào một thế giới mới bên trong - cái mà Lục Giả thời xưa tâm niệm "Ẩn chi tắc đạo bố chi tắc vi thi" (Ẩn bên trong là đạo bày ra bên ngoài là thơ). Thơ hình thành từ những trận bão lòng. Các bài thơ hay dường như ra đời một cách ngẫu nhiên bất ngờ như tình yêu bỗng dưng xuất hiện nhắm tới một đối tượng xác định và một mục đích nhất định.
Không phải ai tu cũng đắc đạo cả. Thi sĩ là con ong. Phải biết chọn hoa để làm mật không cẩn trọng dễ thành ra mật đắng. Thạch Quỳ đã nhập cõi bằng tâm đức và số phận của mình. Thành thử đọc thơ không dễ. Thiếu một cặp mắt tinh khi đọc sẽ vùi dập nỗi khổ tâm của người viết. Tìm ra chỗ khúc mắc mới tỏ được nỗi tâm huyết của nhà thơ. Ngôn ngữ là cái bóng của hành động việc làm nó lột tính cách thi nhân. Giữa giấy trắng mực đen chữ nghĩa quyết định sự sống còn của tác giả. Rõ ràng là thực tiễn của thi ca Thạch Quỳ đã ứng với điều chăm bẵm của nhà thơ "Bản chất cái đẹp có các phẩm chất của nó. Một cách hồn nhiên nhất như không hiểu biết nghệ sĩ luôn sáng tạo để phát triển cái đã có đã nhận thức. Nghệ sĩ phải cao hơn những lời tán tụng sự hâm mộ và cả sự tán thưởng của công chúng" (Tự bạch).

*
      Lưu Hiệp trong Văn tâm điêu long cho rằng "Người làm thơ có thể giàu có ở vạn bài nhưng có khi lại nghèo ở một chữ". Thơ Thạch Quỳ có những điểm yếu nhất định về cấu tứ thi pháp ngôn ngữ. Chúng ta có thể dễ dàng nhặt ra được những hạt sạn nhỏ ngay cả trong bài thơ hay như Tiếng chim: - Từ đồng nghĩa khác âm còn thiếu nên hay lặp: "Chỉ biết tiếng bom gầm không át được - Tiếng chim nằm trong trái tim người đi."
Chữ "trái tim" đã dùng hai lần ở trên nên thay vào đây bằng từ tương đương "lồng ngực" hợp lý hơn.
- Thừa chữ: "Anh bạn Lào nhớ con chim trên váy xanh thêu chỉ của Bunmi". Câu thơ này hơi bị "Lào" hóa và thừa hai chữ "chỉ" và "của" đã thêu dĩ nhiên phải bằng chỉ trong văn cảnh không phải của Bunmi thì của ai vào đây. Thử chữa lại: "Anh bạn Lào nhớ con chim thêu trên váy xanh Bunmi" có Việt hơn không?
"Sắn đã gieo xong đỗ đã tỉa". Hạt mới gieo sắn trồng bằng hom (thân cây) thì gieo thế nào được. Tỉa là cắt bớt cành. Tiếng Nghệ nói gieo là trỉa. Câu thơ nên chỉnh lại "Sắn đã trồng xong đỗ đã trỉa".
"Tiếng chim rót và mầm cây mở uống". Giữa chữ "và" và chữ "làm" tiếng nào đạt hiệu quả nghệ thuật hơn? Chữ "và" ngăn giữa phân đôi hai phạm trù độc lập còn chữ "làm" biến nó thành cặp phạm trù hô ứng.
Tài nghệ của văn nhân theo tôi nghĩ là phải biết xóa bỏ không thương tiếc những cái cần xóa bỏ. Chỉ có như vậy anh ta mới tiến lên được. Thơ là cái đẹp tối thượng của muôn loài. Là người trinh sát của thượng đế Thạch Quỳ làm thơ là để đào thoát ra khỏi sự cô độc nhằm giải giới những ẩn ức của hồn mình. Thơ Thạch Quỳ có chỗ như trăng ngâm đáy nước có chỗ như hoa chiếu trong gương không dễ gì mà giải được. Anh cũng có những bài khó hiểu. Đọc Đêm miền rừng xem tới xem  lui đến cả tôi cũng không hiểu được tác giả muốn nói gì (!?). Chúng tôi viết thư hỏi Thạch Quỳ. Anh giải thích: "Tôi học ông Nguyễn Du nhưng học cái gì ? Học cái triết lý gốc. Ở chỗ tôi quan niệm Truyện kiều là cái phòng thí nghiệm. Thí nghiệm gì? Đổ cái chất ấy vào ống nghiệm thì nó ra cái chất gì sau các phản ứng? Ông Nguyễn Du đã đổ cái chất vào ống nghiệm? Ống nghiệm đó là gì? Xin thưa: Cái chất ông Nguyễn Du đổ vào ống nghiệm đó là tinh hoa của trời đất của tạo hóa là đặc trưng kết lại thành cô Kiều. Cô  Kiều đi qua ống nghiệm trở thành kẻ sống dở chết dở không hóa ma cũng chẳng còn cái hồn người. Tóm lại thành cái dị dạng. Ông Nguyễn Du có khát vọng lớn là mong sao cho loài người có một cơ cấu xã hội cho hợp lẽ tự nhiên đừng giết tinh hoa kết lại trong hai tiếng Con Người. Ông đã trố mắt khi thấy cô Kiều dị dạng tâm hồn ông thét lên một khát vọng lớn ở tầm nhân văn nhân bản nhân đạo vô biên trong cái tập thơ như chỉ có mỹ cảm êm đềm "Mua vui cũng được một vài trống canh" mà ta thường gọi nôm na đơn giản là cái Truyện Kiều ấy. Bài Đêm miền rừng hoàn toàn là như thế. Nó nén cái triết lý Truyện Kiều lại trong từng ấy chữ theo nhận thức của tôi. Tôi viết nó bằng những động tác vũ điệu ma quái. Mong nó không dẫn dắt bạn đọc đi lạc vào khu rừng rậm đó".
Nghe xong đọc lại bài thơ tôi lại càng tắc tị hơn gọi dây nói cho tác giả:
- "Ông nói gì tôi chẳng hiểu mô tê chi cả". Ở đầu dây ngoài Vinh Thạch Quỳ hét toáng lên: "Vậy là hiểu quá rồi. Bác đã ngộ ra!". Thế đấy bạn đọc ai hiểu Đêm miền rừng làm ơn làm phước xin giải mã giùm tôi.

*

      Thơ Thạch Quỳ trầm bổng nhiều cung bậc như một cây đàn muôn điệu luôn nhất quán ở tâm hồn không nhất quán ở giọng điệu. Nghe Tiếng chim mà làm được sáu đoản khúc tài tình như vậy sức viết quả là sung túc và trường vốn. Nhìn đống gạch vụn đổ nát do chiến tranh hủy diệt ở thành Vinh nghĩ được xa gần là rất sâu.Từ Cái đường thẳng nằm t rong hình học của Ơclit nhảy sang Lôbasépxky khô không khốc đến cái chết của Galilê mà rút ra được bài học triết lý bổ ích cho cuộc đời bộc trực được tâm tính con người như vậy là khá kỳ thú và tươi mát. Tình yêu mà lại tang tảng như Thơ viết ở Đàn Giao là rất nhộn. Những đề tài mòn nhẵn về làng cát cỏ cây thông An Dương Vương - Mỵ Châu... mà nghĩ được riêng và đẩy được tới chốn vĩnh cửu như rứa là rất giỏi thơ... Phải chăng đấy là bằng chứng của sự đa dạng ở một phong cách đã định hình? Bạn đọc nên đọc toàn bộ thi phẩm Thạch Quỳ với 300 bài chứ không phải là hơn chục bài chúng tôi trích theo đây thì mới có thể kiểm chứng được nhận định này.

(Rút từ bộ THI NHÂN VIỆT NAM HIỆN ĐẠI)
THÁI DOÃN HIỂU

( Theo trannhuong.com )

More...