Đô thị hóa Thành phố Hồ Chí Minh góc nhìn lịch sử - TS VƯƠNG CƯỜNG


Đô thị hóa thành phố Hồ Chí Minh - Góc nhìn lịch sử
TS VƯƠNG CƯỜNG

 




ĐÔ THỊ HOÁ GÓC NHÌN LỊCH SỬ
TS VƯƠNG CƯỜNG


     Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay là trung tâm kinh tế văn hoá lớn của nước ta với diện tích khoảng 2080 km2 dân số khoảng 7 triệu người trong đó có khoảng 1 8 triệu người nhập cư. Toạ lạc trên một vị trí địa lý thuận lợi nằm giữa một chùm đô thị sầm uất của miền Đông Nam Bộ có đường giao thông thuỷ bộ đường không thuận lợi từ Tây sang Đông từ Nam đến Bắc. Nơi tụ hội và giao lưu văn hoá của nhiều dân tộc và quốc tế.

Là một đô thị nhưng diện tích đã và đang đô thị hoá 85% số dân sinh sống và 75% diện tích còn lại với 15% dân số sinh sống lại thuộc về nông thôn thành phố Hồ Chí Minh một trong những tỉnh thành phố có tốc độ phát triển cao nhất nước GDP liên tục tăng trong 20 năm lại đây GDP bình quân 10 02% có đóng góp lớn cho Nhà nước trên cả các mặt.

Chương trình tổng kết những vấn đề kinh tế - xã hội nảy sinh trong quá trình đô thị hoá ở thành phố Hồ Chí Minh nhằm hướng chính xác vào các quận ven đô nơi có quá trình đô thị hoá đã và đang sôi động nhất. Nhiều vấn đề kinh tế - xã hội nảy sinh thể hiện rõ rệt nhất. Tuy nhien để có cái nhìn tương đối chính xác nhóm nghiên cứu không thể không nghiên cứu các giai đoạn đô thị hoá của thành phố. Một trong những lát cắt quan trọng nhiều người nghiên cứu dựa trên các tài liệu lịch sử để nhìn thành phố từ xa xưa từ khi thành phố này mới ra đời.

Khó khăn của nhóm nghiên cứu khi nhìn về chiều sâu lịch sử nhất định không thể tránh khỏi. Tuy nhiên chúng tôi muốn phác hoạ những nét rất cơ bản mà thôi.

Theo các nhà lịch sử và nhà nghiên cứu hơn 300 năm về trước một vùng đất mưa thuận gió hoà cảnh sắc thiên nhiên tươi đẹp đất đai trù phú phì nhiêu lại nằm giữa trung tâm của miền Đông Nam Bộ với nhiều thuận lợi đã thu hút nhiều dân cư tìm tới lập nghiệp. Họ là những người nông dân nghèo khó ở đồng bằng sông Hồng đồng bằng Thanh Nghệ Tĩnh và suốt dọc miền Trung của đất nước với trái tim khao khát tự do và ý chí mạnh mẽ đi mở đất. Hướng phát triển nhằm thẳng phương Nam. Tình hình chính trị - xã hội mà chế độ pk Việt Nam đang trị vì lúc đó đầy rối ren. Cuộc phân tranh Trịnh - Nguyễn kéo dài đất nước lâm nạn binh đao người dân càng lầm than cực khổ. Chúa Nguyễn rất cần thêm dân tăng lính phục vụ cho cuộc nội chiến đẫm máu và đã khuyến khích động viên đặc biệt các hộ dân có nhiều trâu bò của cải điền nô vào Nam khai hoang tạo thêm thế lực để chống lại chúa Trịnh.

Trong cuộc thi dan a lần ấy một số dừng lại ở hạ lưu sông Đồng Nai một số đi đến sông Cửu Long và số đông dừng lại hai bê sông Bến Nghé. Trong cuộc mưu sinh ấy Bến Nghé lúc này là rừng hoang nước độc hàng trăm Km ngút ngàn xanh những cư dân đầu tiên phải chiến đấu chống lại tất cả từ thú dữ đến muỗi vắt từ khí hậu đến bệnh tật. Kết quả lao động bền bỉ và cật lực trong nhiều thập kỷ mới tạo dựng được những cánh đồng phì nhiêu trồng lúa với mênh mông vườn tược bốn mùa hoa trái. Quá trình đó đã hun đúc ngưng đọng lại không chỉ đời sống vật chất giàu có mà còn đời sống văn hoá vô cùng phong phú. Phóng khoáng như trời đất phương nam giao lưu mở lòng đón bạn và cũng phảng phất man mác buồn chảy theo kênh rạch những giọng hò và đờn ca tài tử như chợt nhớ một miền xa nào đó từ phương Bắc.

Bến Nghé càng được khai thác càng lộ rõ một vùng giàu có đẹp đẽ thu hút ngày càng nhiều người đến ở phố nhà mọc lên ngày càng nhộn nhịp dưới nước trên bò thành nơi đô hội nhất phương Nam. Chúng tôi chưa có đủ tài liệu chứng minh nhưng có lẽ đây là đô thị hoá đầu tiên của thành phố Hồ Chí Minh số dân nhập cư số thời gian đô thị hoá tiếc rằng chưa xác định được (đó là thế kỷ thứ XIX?).

Từ những giọt mồ hôi khai phá đầu tiên Bến Nghé nói riêng đất nước nói chung ngày một hiện hình sự giàu có và tươi đẹp theo thời gian và sự phát triển dần vùng đất ngày càng quan trọng do quy định của địa lý tự nhiên được con người khai phá. Đất nước ấy vùng đất ấy bỗng trở thành một miếng mồi béo bở trước những con thú đế quốc thực dân. Từ giữa thế kỷ XIX đến giữa thế kỷ XX thực dân Pháp xâm lược nước ta Bến Nghé và cả lãnh thổ nước ta thành thuộc địa của chúng. Giữa thế kỷ XX đế quốc Mỹ mưu đồ chiếm nước ta làm thuộc địa kiểu mới gây cuộc chiến tranh đẫm máu nhất trong lịch sử nước nhà kéo dài 21 năm (1954 - 1975). Nói tổng quát Bến Nghé ngày xưa Sài Gòn - Gia Định bây giờ cùng với cả nước phải sống dưới sự chiếm đóng của giặc 113 năm.

Vì mục đích thống trị và khai thác thuộc địa thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đã đầu tư xây dựng Sài Gòn thành thủ phủ có quy mô tương đối lớn cơ sở vật chất tương đối hiện đại.

Thực dân Pháp đã xây dựng cảng Nhà Rồng đường xe lửa Sài Gòn - Mỹ Tho nhà máy điện chợ Quán xưởng sửa chữa đóng tàu Ba Sơn nhà máy rượu Bình Tây nhà máy bia nước ngọt BGI hai nhà máy thuốc lá Mic và BasTos xưởng cơ khí Caric hai hãng cao su Labbé và Michelin nhà máy sản xuất phân bón Vĩnh Hội...

Sự đầu tư xây dựng như thế tạo cho Sài Gòn có nhiều việc làm và thu hút một số dân nhập cư vào thành phố bị bóc lột thậm tệ. Thực dân Pháp đã xây dựng Sài Gòn thành một Trung tâm - chính trị - khoa học - văn hoá quy mô lớn nhất Nam bộ  và Đông Dương. Sài Gòn cũng thành thương cảng lớn tiếp nhận sản phẩm công nghiệp từ Pháp sang tiêu thụ ở thuộc địa và vơ vét của lúa gạo tài nguyên bóc lột từ nước ta về nước hoặc bán các thị trường khác. Về kinh tế thực dân Pháp chủ trương bóc lột triệt để về văn hoá thì nô dịch đến cùng.

Cùng với quá trình đó là quá trình "đô thị hoá" phục vụ cho sự nô dịch bóc lột và vơ vét. Cư dân thành phố Sài Gòn ngày một đông hơn và bộ mặt thành phố cũng được xây dựng khang trang hơn. Nhưng sự khang trang đó chỉ phục vụ bóc lột. Những cư dân Sài Gòn ngày càng xơ xác trong quá trình "đô thị hoá". Đô thị hoá càng phát triển thì cư dân đô thị càng bị bóc lột thậm tệ người lao động ngày càng tha hoá.

Từ giữa năm 1954 Đế quốc Mỹ dựng lên chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm thực thi chủ nghĩa thực dân mới ở Miền Nam nhằm chống phá cách mạng và xâm lược nước ta. Để phục vụ mục đích đó "đô thị hoá" một lần nữa lại được phát triển mở rộng ra vùng phụ cận. Dân nghèo từ những vùng nông thôn do bị mất đất hoặc chạy giặc tránh chiến tranh di cư vào Sài Gòn kiếm sống mặc dù bị kiểm soát rất chặt. Các trung tâm thương mại công nghiệp mọc lên một lực lượng lớn lao động được thu hút. Hơn 600.000 sĩ quan binh lính Mỹ và bọn lính đánh thuê nghiến giày đinh lên khắp thành phố. Hàng trăm dịch vụ phục vụ đội quân xâm lược này cũng phát triển theo trong đó chủ yếu là tệ nạn.

Từ 1957 đến 1959 tư bản nước ngoài đầu tư vào miền Nam số vốn lên đến hơn 2 tỷ USD. Nhiều ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và chế biến nông - lâm - hải sản đặc biệt lúa gạo và dược phẩm được xây dựng như nhà máy bóng đèn Coteco nhà máy sản xuất Pin - accu Vi Deco... Tư bản mại bản người Việt người Hoa được Mỹ đặc biệt ưu ái tăng dần thế lực kiểm soát ngành hàng sản xuất ở đô thị đặc biệt là Sài Gòn Mỹ cho là chỗ dựa vững chắc.

Cái gọi là "đô thị hoá" lúc này thực ra Mỹ cố tình phát triển xây dựng và củng cố sự hiện diện và thực hiện âm mưu xâm lược chia cắt nước ta. Đô thị hoá không vì mục tiêu phát triển kinh tế văn hoá xã hội phục vụ lợi ích con người hỗ trợ con người nâng cao chất lượng sống.

Trước năm 1960 với công thức viện trợ Mỹ kỹ thuật Nhật Bản lao động bản xứ nhằm thu phục các nước trong khu vực và dễ dàng nhanh chóng biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới chống lại cách mạng Việt Nam. Nhưng tiếng súng đồng khởi đã nổ ra ở Bến Tre mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đã ra đời nhân dân miền Nam nhất trí đứng dậy tự giải phóng cứu nước cứu nhà. Mỹ bắt đầu xây dựng các công trình cơ sở VC- KT phục vụ cuộc can thiệp và xử lý Việt Nam. Xa lộ Sài Gòn - Biên Hoà các sân bay bến cảng đường giao thông liên tỉnh liên miền hệ thống kho tàng căn cứ đóng quân hệ thống nguyên liệu toà đại sứ... đồng loạt được xây dựng. Nội bộ thành phố có nhiều chỉnh trang hàng loạt công trình công nghiệp được các nhà tư bản giàu lên do phục vụ Mỹ xây dựng. Khu vực phụ cận (ven đô) lại một lần nữa được phát triển sôi động hình thành một mạng lưới cơ sở sản xuất công nghiệp khá hiện đại. Năm 1971 một khu công nghiệp quy mô lớn được xây dựng ở ngoài thành phố Sài Gòn và Biên Hoà đạt 80% năng lực sản xuất công nghiệp toàn miền Nam. Năm 1974 Sài Gòn - Gia Định đã sở hữu 38.000 cơ sở sản xuất công nghiệp trong đó có 766 công ty và 8548 cơ sở sản xuất tư nhân. Ngành dệt có năng lực sản xuất 240 triệu mét vải các loại/năm; ngành cơ khí lắp ráp được 130 loại máy móc thiết bị 5 triệu xe đạp xe máy và nhiều sản phẩm cơ khí sản xuất được 170 triệu hộp sữa cô đặc/năm; 250 triệu lít bia giải khát/năm; 500 triệu bao thuốc lá xay xát chế biến thức ăn cho người và gia súc đạt 200.000 tấn sản xuất axits 32.000 tấn 20.000 tấn xúp; 88.000tấn xà phòng xút; 1700 tấn ống thuỷ tinh trung tính 53.000 tấn chai lọ thủy tinh 150.0000m3 gỗ xẻ 1 2 triệu tấn ván ép; 50.000 tấn giấy các loại in 120.000 tấn giấy.

Ngành công nghiệp sở hữu hàng trăm nhà máy chuyên gia công chế biến với hàng ngàn công nhân và lao động phổ thông (Vy mi tex có 3.200 công nhân lao động;Vinatexco có 3.320 công nhân lao động; Sicoviaca có 2000 công nhân lao động...) Một loạt xí nghiệp có một số rộng đoạn từ đông hoá xí nghiệp chế biến sữa Foremost 2 triệu hộp/ca chỉ 200 công nhân. Các ngành tiêu thụ công nghiệp cơ khí luyện kim đều phát triển mạnh. Hệ thống giao thông đường bộ đường không đường biển đường sông hình thành một mạng lưới giao thông rất thuận tiện được đầu tư tốt khá hoàn chỉnh. Cảng Sài Gòn có khả năng bốc xếp phần lớn bằng cơ giới 7 triệu tấn/ năm. Hệ thống đường không có các tuyến bay từ Sài Gòn đến các thành phố lớn các thành phố lớn hầu hết các nước trong khu vực và phương Tây. Sân bay Tân Sơn Nhất có khả năng tiếp nhận máy bay hạng nặng. Mỗi năm có 139.000 chuyến lên xuống chuyên chở 1 triệu lượt hành khách 10 triệu tấn hàng hoá. Ngành xây dựng xây dựng cao tầng: 31 triệu m2trong 3 năm từ 1971 - 1974.

Tuy các ngành đều phát triển nhưng dưới thời Mỹ - Thiệu tập trung xây dựng trụ sở làm việc rất ít công trình phục vụ dân sinh thời Pháp xây dựng Sài Gòn thành trung tâm chính trị - kinh tế nhằm khai thác thuộc địa. Thời Mỹ xây dựng chủ yếu là ngnàh công nghiệp nhẹ chế biến gia công lắp ráp mà vật liệu và linh kiện chủ yếu nhập từ nước ngoài biến Sài Gòn nói riêng miền Nam nói chung kinh tế phụ thuộc vào kinh tế TBCN. Những cư dân thành phố trong đó phải kể đến dân nhập cư bị khai thác triệt để sức lao động tận dụng mọi nguồn lực sẵn có để phục vụ bộ máy chiến tranh ngành càng phình ra. Tuy vậy quá trình này cũng đã đạt đến một trình độ phát triển nhất định điện khí hoá và cơ giới hoá có sự phân công chuyên môn hoá và hợp tác hoá nhất định quy mô lớn dần. Trình độ quản lý kinh tế cũng được nâng cao dần.

Nền kinh tế Sài Gòn chủ yếu nhờ viện trợ trong những năm 1960 đã lên tới 4 tỷ USD. Mặt hàng sản xuất sản phẩm cũng phát triển mạnh góp phần che lấp bản chất kinh tế thật mà phủ lên bề mặt xã hội sự phồn vinh giả tạo. Hơn 600.000 quân Mỹ và chư hầu Mỹ phải đổ hàng trăm tỷ USD để nuôi đội quân đó.

Ngành dịch vụ cũng rất phát triển. Ngân hàng tài chính khách sạn may mặc... đặc biệt phát triển. Từ nguồn viện trợ bơm vào trong 32 ngân hàng hoạt động tại Sài Gòn. Vốn không được tích tụ từ quá trình sản xuất. Sự sống còn của nền kinh tế đào tạo này tồn tại phụ thuộc vào tình hình chính trị và quân sự ben ngoài. Tình hình chính trị và quân sự do Chính phủ lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam và quân dân cả nước ta nắm quyền chủ động thực chất nền kinh tế ấy là kinh tế thương mại phục vụ cho mục tiêu chiến tranh xâm lược. Cơ cấu kinh tế là công nghiệp chiếm 35% nông nghiệp 5% dịch vụ - thương mại 50%.

Biểu đồ dân số thành phố Hồ Chí Minh từ 1698 đến 1975

Qua biểu đồ 4 ta thấy sự tăng dân số Thành phố Hồ Chí Minh (Sài Gòn - Chợ Lớn trước đây) qua gần 300 năm. Tuy nhiên sự tăng lên từ 1698 đến 1931 chưa có nhiều đột biến do chế độ phong kiến thực dân kìm hãm sự phát triển. Sự tăng đột biến đáng chú ý từ năm 1954 đến 1975 như đã phân tích ở trên đây là giai đoạn đô thị hoá cưỡng bức.

Lịch sử đã điểm ngày 30-4-1975 cùng với đội quân viễn chinh Mỹ chính quyền Nguỵ Sài Gòn sụp đổ đô thành Sài Gòn trở về trong màu cờ giải phóng. Những khu ổ chuột đó là hình ảnh nhà ở của dân nhập cư. Niềm vui thống nhất đất nước cũng là bước ngoặt của quá trình đô thị hoá thành phố Sài Gòn đã bắt đầu.

VC

HL ơi !

Nhiều vấn đề lắm do lên mạng mình phải cắt bớt những chỗ không cần thiết thông tin . Viết cụ thể có lập luận nhiều luận cứ luận chứng ... Mình chỉ đưa vậy thôi . Chịu khó đọc đấy HL a. . HL hình dung công trình này gồm 3 chương Lý luận thực trạng và giải pháp . Tổng quan hơn 200 trang khôÂ4 . Kỷ yếu khoa học hơn 600 trang . Tài liệu tham khảo cả lý luận và thực tiễn hơn 1000 trang cả trong và ngoài nước .
Do lựa chọn cắt ngắn cho phù hợp với blogs nên kết cấu bị ảnh hưởng . Xem từng đoạn không thấy tính liên tục phát triển của Logic . Có thể thấy cây mà không thấy rừng . Biết thế nhưng mình cũng đưa lên cho ai có nhu cầu thì tham khảo . Chúc vui !

HL

Này anh VC
Định chuyển nghề à?

Bài viết của VC sâu sắc với nhiều dữ liệu cụ thể. HL miễn bàn về quy hoạch. Chỉ muốn bàn về ý dân. Ý dân nhiều khi là tất cả nhưng cần kiểm tra xem thông tin đến với người dân như thế nào ai gợi ý thảo luận và ai xử lý ý dân.

HL coi việc VC đưa bài này lên mạng cũng là để thông tin thêm về một góc nhìn đối với v/đ của một thành phố lớn. Và HL thì không muốn thành một chuyên gia trong lĩnh vực mình không chuyên gia.

Nên chỉ ca ngợi VC và đọc đển hiểu thêm. Cám ơn VC.