Đô thị hóa một số quan niệm - TS VƯƠNG CƯỜNG



Đô thị hóa một số quan niệm

 TS VƯƠNG CƯỜNG


( Trích Những vấn đề kinh tế - xã hội nảy sinh trong quá trình đô thị hóa Thành phố Hồ Chí Minh - Chương trình nghiên cứu khoa học tổng kết thực tiễn cấp bộ. Chủ nhiệm chương trình :TS VƯƠNG CƯỜNG )

Sau gần hai năm nghiên cứu công trình đã được hội đồng nghiệm thu đánh giá công phu nghiêm túc  kết quả khá chúng tôi xin trích đăng một số phần ( Do công trình có dung lượng lớn  ) để các bạn có nhu cầu tham khảo .






Đô thị hóa một số quan niệm
TS VƯƠNG CƯỜNG

       1. Các quan niệm khác nhau về đô thị hoá

Vấn đề quan trọng mang tính chất thời đại nên các quốc gia trên thế giới đều tập trung nghiên cứu. Để có thể đi sâu nghiên cứu đưa ra các giải pháp khả thi tránh tổn hại ít nhất do đô thị hoá không kiểm soát được mang lại câu hỏi đầu tiên phải trả lời là đô thị hoá là gì ? Xoay quanh khái niệm này có rất nhiều cách trả lời nhiều tác giả đã đưa ra ý kiến của mình. Tuy vậy vẫn cần thiết phải đề cập vì hơn ai hết khái niệm này vẫn phụ thuộc vào điều kiện hoàn cảnh từng quốc gia.
      
Theo tiến sĩ Guoming Wen đô thị hoá là một quá trình chuyển đổi mang tính lịch sử tư liệu sản xuất và lối sống của con người từ nông thôn vào thành phố. Thường quá trình này được nhìn nhận như là sự di cư cùa nông dân nông thôn đến các đô thị và quá trình tiếp tục của bản thân các đô thị. Ông cũng cho rằng trong thực tế đô thị hoá là một quá trình phức tạp hơn nhiều. Bởi tiến trình này đã bộc lộ không ít dấu hiệu của tình trạng quá nóng và những vấn đề tiềm ẩn như áp lực gia tăng đối với việc làm và an ninh xã hội tình trạng bong bóng xà phong trong lĩnh vực bất động sản buộc Chính phủ Trung Quốc phải hãm phanh xu hướng này thông qua việc xem xét một cách cẩn trọng và từng bước kiểm soát đối với quá trình đô thị hoá.
       TS
Toshio Kuroda (Nhật Bản) cho rằng đô thị hoá trên tổng số dân cư trú ở thành phố hoặc dựa trên quan điểm về các vùng có mật độ dân cư đông. Nghiên cứu thực tế nước Nhật ông cho rằng đô thị hoá không đơn thuần là một hiện tượng xảy ra sau chiến tranh ở Nhật Bản mà là một quá trình trình diễn ra từ đầu thế kỷ XX. Sau năm 1945 quá trình đô thị hoá diễn ra ở Nhật Bản khá rõ do yêu cầu của việc tái thiết nhanh chóng và tăng trưởng kinh tế đã đẩy nhanh quá trình đô thị hoá. Sự di chuyển của một lượng lớn dân số trẻ từ nông thôn ra thành thị chủ yếu những người đi tản cư về. Quá trình này diễn ra đặc biệt nhanh chóng từ cuối thập kỷ 50 đầu thập kỷ 60 do người nhập cư mong muốn có cuộc sống tốt đẹp hơn6.
         TS
Jung Duk (Hàn Quốc) cho rằng đô thị hoá là sự gia tăngdân số chủ yếu từ nông thôn ra thành thị mà trước đây thế hệ trẻ rời bỏ nông thôn với mục đích tìm kiếm việc làm cơ hội giáo dục và những thú vui tiện nghi nơi đô thị trong giai đoạn ban đầu công nghiệp hoá (1967-1975)7.
      
Ở Việt Nam đô thị hoá đang diễn ra với tốc độ cao đặc biệt ở thành phố Hồ Chí Minh và thủ đô Hà Nội. Quá trình này vốn đã có từ lâu trong lịch sử nhưng thật sự tăng tốc từ những năm đổi mới 1986 đến nay. Tốc độ đô thị hoá càng về sau càng lớn. Tuy vậy việc nghiên cứu về đô thị hoá chưa thực sự quan tâm đúng mức. Trong những công trình đã có thường ít nghiên cứu lý thuyết mà đa số mô tả tổng kết thực trạng đô thị hoá ở một số thành phố. Một số nghiên cứu cụ thể công phu của Viện Nghiên cứu kinh tế thành phố Hồ Chí Minh rất đáng chú ý. Tham khảo các nghiên cứu trong và ngoài nước khái niệm đô thị hoá được đề cập có thể chưa giống nhau nhưng thống nhất ở chỗ có hai thành tố luôn được nhắc tới.
      
Một là đô thị hoá là sự tăng lên của cư dân đô thị. Sự tăng lên này theo 3 dòng chính: sự tăng dân số tự nhiên của cư dân đô thị dòng di dân từ nông thôn ra thành thị và điều chỉnh về biên giới lãnh thổ hành chính của đô thị. Ba dòng này có vai trò và vị trí khác nhau theo từng giai đoạn lịch sử cụ thể.
      
Ở Malayxia từ 1957 đến 1970 mức tăng dân số tự nhiên chiếm tới 61% trong tổng mức dân số đô thị các yếu tố di cư và phân loại mỗi yếu tố chỉ đóng góp 20%. Mười năm sau 1980 tăng dân số tự nhiên chỉ còn 40% hai yếu tố di cư và phân loại đã tăng lên mỗi yếu tố 30%. Giai đoạn (1991-2000) tăng dân số tự nhiên vẫn là yếu tố quan trọng nhất làm tăng dân số đô thị đóng góp tới 46% trong khi mức tăng do phân loại đô thị chỉ chiếm 21% và mức tăng dân số do di cư là 33%.
      
Ở Trung Quốc theo Guoming Wen giai đoạn từ năm 1971-1978 dân số đô thị tăng thêm 12 92 triệu người trong đó 49% từ nguồn tăng dân số tự nhiên 41% từ nguồn di cư vào đô thị và chỉ có 10% là nguồn dân bổ sung do thay đổi địa giới hành chính. Giai đoạn từ 1978 đến 2000 dòng di cư chủ đạo từ nông thôn ra thành thị ở giai đoạn này ngoài sự thu hút của đô thị với nông thôn còn có việc Chính phủ Trung Quốc thực hiện chương trình kế hoạch hoá gia đình làm cho mức sinh giảm mạnh nên dân số tăng theo mức sinh tự nhiên giảm xuống. Người ta tính hai nguồn tăng dân số tự nhiên và nhập cư chiếm tới 3/4 những thay đổi hành chính lãnh thổ là 1/4 lượng dân số bổ sung của đô thị .
      
Ở Hàn Quốc theo Jung Duk nguồn gia tăng dân số ở các đô thị chủ yếu là do di dân từ các khu vực nông thôn lên thành phố đây là nguyên nhân chính làm tăng cư dân đô thị. Trong khi dân số quốc gia Hàn Quốc gia tăng gấp 2 đến 3 lần trong vòng nửa cuối thế kỷ XX thì dân số 6 thành phố lớn nhất tăng bình quân 8 4 lần .
       Ở thành phố Hồ Chí Minh dân số đô thị tăng lên vẫn theo 3 nguồn trên. Sự biến động của từng giai đoạn có khác nhau. Do Nhà nước thực hiện kế hoạch hoá gia đình và nhận thức của người dân nên tỷ lệ dân số tự nhiên giảm dần:

- 1979-1989: 1 61%

- 1990-1995: 1 75%

- 1996-2000: 1 52%

- 2001 - 2005: 1 38%

Trong khi đó tỷ lệ dân số tăng cơ học tăng dần:

- 1979-1989: 0 02%

- 1989-1999:  0 84%

- 2000 đến nay: 2 33% .
      
Để nhìn nhận vấn đề đô thị hoá ở thành phố Hồ Chí Minh thông qua nguồn tăng dân số rõ hơn nhóm nghiên cứu đưa ra sơ đồ so sánh sự tăng dân số tự nhiên và cơ học từng năm như sau:
      
Từ năm 1979 đến 1999 dân nhập cư luôn luôn ít hơn dân số tăng tự nhiên. Nhưng từ năm 2001 đến nay dân số nhập cư tăng đột biến gần 2 lần dân số tăng tự nhiên. Đồng thời ta cũng thấy dân số đô thị từ 1979 đến 2006 luôn luôn tăng càng về sau càng đột biến. Năm 1979 dân số thành phố Hồ Chí Minh khoảng 3.293.146 người năm 2006 đã 7 triệu người. Tuy nhiên qua từng giai đoạn đô thị hoá có khác nhau.
      
Hai là đô thị hoá mở rộng không gian đô thị không gian kiến trúc. Mở rộng không gian đô thị là một tất yếu đối với các đô thị trên thế giới trong quá trình đô thị hoá. Đó cũng có thể đô thị sát nhập vào đô thị hoặc đô thị hoá mở rộng đô thị ra ngoại thành hoặc lân cận. Mở rộng không gian đô thị cũng mang tính lịch sử tuỳ từng quan niệm của mỗi quốc gia.
      
Quá trình tập trung dân cư cao và yêu cầu phát triển của đô thị trong điều kiện phát triển kinh tế - xã hội thành phố Hồ Chí Minh đã có nhiều lần phải mở rộng không gian đô thị đáp ứng yêu cầu đô thị hoá và phát triển.
      
Sau ngày 30/4/1975 thành phố Hồ Chí Minh có diện tích 1.295 56km2 dân số 3.498.120 người được chia gồm nội đô Sài Gòn - Chợ Lớn. Vùng ven đô ngoại thành (gồm các huyện thuộc tỉnh Gia Đình trước đây).
      
Dưới thời Mỹ - Ngụy có 11 quận nội thành. Sau năm 1975 thay đổi địa giới còn 8 quận đồng thời lập thêm 4 quận vùng ven mới. Đó là Gò Vấp Phú Nhuận Bình Thạnh Tân Bình. Diện tích nội thành và vùng ven là 142 7 km2 chia ra 267 phường. Vùng ngoại thành gồm 5 huyện: Thủ Đức Hóc Môn Củ Chi Bình Chánh Nhà Bè. Với diện tích: 1.152 8km2 chia ra 77 xã.
      
Năm 1978 thành phố Hồ Chí Minh tiếp nhận thêm 2 huyện duyên hải (nay là Cần gìơ) của tỉnh Đồng Nai. Với diện tích 714km2 có bờ biển 15 km. Năm 1997 4 quận vùng ven đô thị hoá đã ổn định. Không gian đô thị lại mở rộng lần nữa. Lần này nội thành có 12 quận và 05 quận ven là: Quận 12 7 2 9 và Thủ Đức.
      
Quá trình đô thị hoá ở thành phố Hồ Chí Minh với tốc độ chóng mặt 5 quận mới này sau chưa đầy 10 năm nhiều quận đất nông nghiệp đã hết quá trình đô thị hoá vẫn tiếp diễn. Năm 2003 thành phố lại mở địa giới đô thị lần nữa quận Tân Bình trở thành quận vùng ven thứ 6. Theo tốc độ đô thị hoá như hiện nay khu vực đô thị lại tiếp tục mở rộng trong thời gian không xa và các quận vùng ven lại tiếp tục xuất hiện.
      
Diện tích toàn thành phố liên tục tăng năm 199012 chỉ 11km2 nhưng sau năm 1975 diện tích thành phố đã tăng hơn 100 lần. Và đến nay đã tăng hơn 300 lần. Do nhiều nguyên nhân trong đó có áp lực đô thị hoá trong lịch sử. Với diện tích như hiện nay thành phố Hồ Chí Minh trở thành đô thị có diện tích lớn hơn nhiều thủ đô thành phố nổi tiếng trên thế giới.
    
Bảng diện tích dân số tổng thu nhập một số thành phố trên thế giới

Thành phố

Diện tích (km2)

Dân số (triệu người)

GDP năm 2004 (tỷ usd)

New York (Mỹ)

780

7 0

284 7

Seoul (Hàn Quốc

605

10 3

198 0

Los Angeles (Mỹ)

1.200

196 0

Osaka (Nhật Bản)

204

3

191

Hồng Kông (Trung Quốc)

1.103

6 8

164

Toronto (Canada)

632

4 3

141 9

Thành phố Hồ Chí Minh

2.095 01

7 0

10 0

Theo http://antg.cand.com.vn ngày 21/6/06

      
Để đi đến khái niệm đô thị hoá các nhà nghiên cứu cũng thường đề cập hai khái niệm nữa có quan hệ trực tiếp với khái niệm đô thị hoá. Một là đô thị là gì ? Thường khái niệm này bao gồm một số nội dung những nội dung này vẫn tuỳ thuộc vào quan niệm từng quốc gia.
      
Để một vùng nào đó được gọi là đô thị Nhật Bản quan niệm có 4 yêu cầu sau:

- Phải có dân số trên 50.000 người.

- Số nhà ở ở khu vực trung tâm của thành phố phải chiếm tới 60% tổng số nhà của toàn thành phố.

- Số người ngụ cư ở thành phố làm việc trong các ngành công nghiệp thương mại... và các thành viên trong gia đình của họ phải chiếm hơn  60% tổng dân cư.

- Cơ sở hạ tầng của thành phố do chính quyền cấp quận quy định phải được cung cấp2.
      
Malaysia quan niệm khu vực đô thị như sau:

- Những khu vực hành chính có mật độ nhà cửa dày đặc với 10.000 dân trở lên vào thời điểm điều tra dân số.

- Những khu vực mật độ nhà cửa xây dày đặc tiếp giáp với khu vực hành chính và có ít nhất 60% dân số (tính những người từ 10 tuổi trở lên) tham gia vào các hoạt động phi nông nghiệp và nhà ở của họ có các phương tiện vệ sinh hiện đại .
      
Ở hàn Quốc một tỉnh có trên 50.000 cư dân sẽ được gọi là "thành phố" (Si) và một khu vực nông thôn có trên 20.000 cư dân sẽ là khu vực dân cư có tên là "Uhr"  (có lẽ do Hàn Quốc đô thị hoá đã đạt mức cao 80% dân cư của Hàn Quốc ở thành phố).
     
Ở nước ta một địa bàn hay khu vực nào đó được gọi là đô thị phải đáp ứng một số tiêu chuẩn trong đó có 3 yếu tố hàng đầu:

- Quy mô dân số tối thiểu 4000 người.

- Lao động phi nông nghiệp: 60%

- Mật độ dân cư tối thiểu 6000 người/km2 .
     
Ngoài khái niệm đô thị trên còn có khái niệm dân cư đô thị. Trung Quốc cho rằng khi nói trên toàn cục dân đô thị là tổng số dân cư ở thành phố và thị trấn. Còn có quan niệm khác dân đô thị là toàn bộ dân cư phi nông nghiệp ở thành phố và thị trấn.
       
Ở nước ta dân cư đô thị thường được tính là những người sống và làm việc ở nội thành phần ngoại thành thường là không tính là cư dân đô thị. Nếu phân chia theo nghề nghiệp thì những người làm nông nghiệp không tính vào cư dân đô thị mà xếp vào nông thôn. Ở thành phố Hồ Chí Minh trong 7 triệu dân hiện nay dân cư đô thị chiếm 85% nông thôn là 15%.
     
Từ những quan niệm trên đây có tham khảo các nghiên cứu trong và ngoài nước chúng tôi bước đầu đưa ra khái niệm đô thị hoá như sau:
     
Đô thị hoá là quá trình chuyển đổi một khu vực một vùng nào đó từ chưa "đô thị" thành "đô thị". Những vùng khu vực có thể là vùng ven đô thị hay ngoại thành có thể thị trấn thị tứ khi có cơ hội đô thị hoá từ đô thị  mở rộng không gian và diện tích cũng như thu hút luồng di cư của dân không nhất thiết từ đô thị trung tâm mà cả những vùng khác nhất là nông thôn trong cả nước.
     
Như vậy đô thị hoá biểu hiện dễ thấy là sự mở rộng không gian đô thị không gian kiến trúc và sự tăng lên của dân nhập cư từ nhiều luồng khác nhau tạo nên sự tập trung dân cư lớn trong m ột th ời gian nh ất đ ịnh . Dân cư vùng đô thị hoá ở thành phố Hồ Chí Minh trước hết là cư dân vùng được đô thị hoá hai là dân cư di chuyển từ nội thành ra vùng ven do vùng nội thành quá tải hoặc đến vùng ven lập nghiệp phát triển kinh tế. Một luồng dân cư rất lớn chảy về từ nông thôn tất cả các vùng trong cả nước . Do đó về mặt dân cư có thể xem đô thị hoá là một quá trình phức tạp bố trí lại dân cư sắp xếp lại lao động. Đô thị hoá nhanh chóng làm cho đô thị ổn định nhanh lại phải tiếp tục mở rộng không gian ra vùng ven. Đó là một quá trình liên tục. Quá trình này chỉ kết thúc khi đô thị đã đi vào ổn định.
  
2. Phân loại đô thị hoá
Quá trình đô thị hoá dưới góc độ là quá trình di cư của dân chuyển từ vùng nông thôn sang đô thị. Quá trình này có thể phân loại ra nhiều giai đoạn có khi có di cư dân vào thành thị mà tính chất đô thị hoá lại khác với quá trình có hình thức tương tự. Quá trình đô thị hoá trong lịch sử có thể phân loại như sau:
     
a.  Đô thị hoá thay thế: Là khái niệm để chỉ quá trình đô thị hoá diễn ra ngay chính trong đô thị. Ở đây cũng có sự di dân nhưng từ trung tâm ra ngoại thành hoặc vùng ven đô. Đô thị hoá thường vẫn mang tính chủ quan thông qua quy hoạch. Quy hoạch đô thị cho phép con người tạo ra những đô thị tối ưu theo ý muốn. Tuy nhiên đô thị được quy hoạch là tối ưu đến mấy vẫn chắc chắn lạc hậu trong tương lai. Do cư dân tăng lên kết cấu hạ tầng kiến trúc đô thị... lần lượt lạc hậu. Đặc biệt các công trình công nghiệp dịch vụ... theo thời gian trở nên lạc hậu và gây ô nhiễm nặng nề phải di dởi xa thành phố. Ở thành phố Hồ Chí Minh hiện có 1.398 cơ sở sản xuất gây ô nhiễm môi trường phải di dời chuyển đổi sản xuất. Đến nay tháng 6/2006 việc di dời đã thực hiện được 85% kế hoạch. Có 578 cơ sở di dời đến địa điểm mới 365 cơ sở phải dừng sản xuất 78 cơ sở chuyển đổi ngành nghề (một số cơ sở sẽ bị cưỡng chế) . Một số cơ sở dịch vụ xuống cấp về hình thức và lạc hậu về chức năng không đáp ứng được yêu cầu mới phải nâng cấp cải tạo.
      
Quá trình này cũng có thể là quá trình chỉnh trang nâng cấp đô thị đáp ứng yêu cầu mới. Hiện ở thành phố Hồ Chí Minh cũng đang xảy ra cả hai quá trình trên. Nhiều hộ gia đình từ trung tâm di cư đến vùng ven và ngoại thành nhiều công trình nhà cửa giao thông kênh rạch vườn hoa nhà văn hoá đang được xây dựng lại với quy mô lớn hơn. Đô thị hoá thay thế được quan niệm ở đây bao gồm cả sự mở rộng không gian đô thị ấy bằng cách phát triển đô thị ra vùng ven và ngoại thành. Để dễ hình dung ta có thể xem đô thị hoá có hai phần một là đô thị hoá ngay trong đô thị đã có và đô thị hoá mở rộng ra vùng ven. Đô thị hoá nhằm đáp ứng chức năng đô thị trong từng thời kỳ. Quá trình đô thị hoá luôn luôn xảy ra song hành cùng lịch sử. Nó có thể kết thúc khi mọi nhu cầu con người được đáp ứng. Nhưng điều này có thể nói là không thể. Vì nhu cầu con người luôn luôn mở rộng điều kiện thành phố luôn bị "già" đi phải có sự thay thế nhất định. Đô thị hoá êm dịu hơn khi dân số không gian đô thị đi vào ổn định.
     
b. Đô thị hoá cưỡng bức: Là khái niệm dùng để chỉ sự di chuyển dân cư từ nông thôn về thành thị lý do ngoài kinh tế tức là không phải trước hết tìm việc làm hay tìm dịch vụ tốt hơn. Quá trình cưỡng bức xảy ra có thể nông dân chạy vào thành phố chủ yếu là lánh nạn. Trong quy hoạch thiết kế ban đầu không tính đến khả năng này. Do vậy khi dân số tăng lên không phải do yêu cầu phát triển của đô thị đứng về phía đô thị là cưỡng bức đối với người dân chạy vào đô thị là tự bắt buộc. Trong lịch sử năm 1778 dân cù lao phố hàng ngàn người Hoa đã kéo về Chợ Lớn do cuộc chiến tranh giữa Tây Sơn và Nguyễn Ánh tàn phá Cù Lao Phố. Từ 1954 đến 1975 cuộc chiến tranh quá ác liệt do Mỹ gây ra để tránh chiến tranh bom đạn người dân các vùng nông thôn chạy về thành phố với số lượng rất lớn. Nếu như năm 1954 dân số Sài Gòn là 1.723.310 người đến 1975 là 3.498.210 người. Số lượng tăng gấp đôi chủ yếu là tăng cơ học. Ở giai đoạn này nhiều nhà nghiên cứu gọi là giai đoạn đô thị hoá cưỡng bức. Những người di cư này tìm đến những vùng đất chưa có người ở hoặc trên các kênh rạch làm nhà tạm để ở (sau này là những khu ổ chuột). Đặc điểm đô thị hoá cưỡng bức là không gian kiến trúc không được mở rộng theo quy hoạch mà mang tính tự phát cao. Các nhu cầu của dân nhập cư không được đáp ứng. Đô thị trở nên quá tải những tiêu cực do đô thị hoá cưỡng bức mang lại ngày một nặng nề. Khả năng khắc phục là chưa thể.
    
c. Đô thị hoá ngược: Là khái niệm dùng để chỉ sự di dân từ đô thị lớn sang đô thị nhỏ hoặc từ đô thị trở về nông thôn.
    
Thông thường ở giai đoạn đầu công nghiệp hoá kinh tế - xã hội đang phát triển đô thị luôn luôn là nơi tạo ra nhiều việc làm và các dịch vụ tốt hơn thu hút hướng di dân từ nông thôn trở về thành thị. Sự bổ sung mọt lực lượng lao động trẻ nam nhiều hơn nữ góp phần phát triển kinh tế - xã hội ở đô thị. Quá trình đô thị hoá kết thúc tức là giai đoạn ổn định của đô thị đô thị trở nên đất chật người đông vấn đề chất lượng sống phụ thuộc nhiều vào môi trường sống cả tự nhiên và xã hội so với nông thôn lại có những hạn chế nhất định. Một mặt do sự phát triển kinh tế - xã hội và các dịch vụ ở nông thôn cũng phát triển đến lượt nó lại thu hút luồng di cư trở lại. Mặt khác nông thôn lại chứa đựng sự phong phú của văn hoá dân tộc văn hoá cội nguồn sự yên tĩnh và đặc biệt môi trường trong sạch. Thực tiễn cho thấy có sự di cư từ đô thị ra bên ngoài đặc biệt là vùng nông thôn hoặc các đô thị nhỏ. Toshio Kuroda gọi theo các học giả Mỹ hiện tượng này là "đô thị hoá ngược" hay là "sự phục hưng nông thôn". Quá trình đô thị hoá di dân từ nông thôn ra thành thị đã góp phần làm cho nông thôn bị "già" nhanh và mất cân đối dân số. Quá trình phát triển đến một lúc nào đó bằng các chính sách của mình các chính phủ sẽ điều chỉnh hướng vào sự phát triển nông thôn. Quá trình này sẽ góp phần san bằng khoảng cách và chất lượng sống thành thị - nông thôn. Đô thị hoá ngược như một chỉ báo tổng hợp về sự phát triển rất cao của một đô thị một quốc gia. Khi đô thị hoá ngược xảy ra con người đã ở một trình độ văn minh cao . Vấn đề quan trọng nhất không còn kinh tế mà là chất lượng sống. Người ta quan tâm đến an ninh môi trường tự nhiên và xã hội giáo dục y tế... Trước hết khi chọn nơi ở đời sống vật chất đã đầy đủ chỉ có đời sống tinh thần mới thật sự là đích tìm kiếm của con người. Đời sống tinh thần sẽ trở nên vô cùng trong sự cách mạng của nó đối với con người.

nguyen trung duc

do thi hoa

em muon xin thong tin ve lich su qua trinh do thi hoa cua ha noi

V. Cường

Thân gửi em Ngọc Linh tôi chưa biết rõ em sinh viên ngành gì nhưng nếu em quan tâm về đô thị hóa tôi có ba lần tham gia nghiên cứu về vấn đề này trong đó hai lần làm chủ nhiệm một lần làm thư ký cho đề án lớn. Hai đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ của tôi là những vấn đề kinh tế - xã hội nảy sinh trong quá trình đô thị hóa oqr nước ta ( Qua khảo sát tại thủ đô hà Nội 1996 ) Và cũng như thế tại Thành phố HCM 2006. Còn dự án Đô thị hóa và chính sách phát triển đô thị ở Việt Nam HVCT_HC QG HCM phối hợp với viện FET ( CHLBĐức ). Ngoài ra còn rất nhiều tài liệu tham khảo khác. Tuy vậy những vấn đề này đều mới và khó ở VN. Em có thể tìm các tài liệu đó tại trung tâm thông tin Quốc gia hoặc tại thư viện HVCT- HC QG HCM nhé! Mong em gặp may mắn.

Ngoc_Linh

Anh Vương Cường thân!
Đọc bài viết của anh thấy nhiều thông tin bổ ích quá!
Đã lâu rồi không thấy ai phân tích về đô thị hoá.
Nhưng mà sao bài viết của anh chỉ phân tích đến tốc độ đô thị hoá của TP Hồ Chí Minh thôi ạ?
Anh có nghiên cứu về tốc độ đô thị hoá của Hà Nội ko ạ?
Hiện e là sinh viên và cũng đang rất quan tâm đến vấn đề đó. Đặc biệt là thực trạng tăng dân số cơ học của các độ thị lớn. Vậy rất mong nhận được sự trợ giúp của anh trong lĩnh vực này.
Cảm ơn anh nhiều vì một bài viết hay. Em có thể tìm được bài viết đầy đủ này ở đâu được ạ?

Vương Cường

Chào bạn Thiên Thần xanh. Tôi muốn nói thêm với bạn đây là chương trình nghiên cứu cấp bộ do tôi làm chủ nhiệm. Tôi đã nói trước rồi toàn bộ công trình này dày hơn 200 trang khổ a4 in theo tiêu chuẩn. Do nhiều nguyên nhân khác nhau tôi không đưa lên hết được. Tôi chỉ nghiên cứu phát hiện những vấn đề kt-xh nảy sinh trong quá trình đô thị hóa ở Thành phố HCM
do vậy trước khi làm ró việc đó tôi phải đưa ra một số khái niệm công cụ đủ làm cơ sở nghiên cứu của đề tài mà thôi. Cá loại đô thị ở VN tôi chỉ thoáng qua thôi. Rất khó nói vì những nội dung khác tôi không đưa lên nên bạn cũng khó biết tôi đã quan tâm những gì. Tôi quan tâm những điều nóng bỏng nhất do ĐTH mang lại. Nếu bạn muốn xem hết có thể tìm tài liệu này ở trung tâm tt quốc gia hoặc ở HV tôi. Rất cảm ơn bạn đã chịu khó đọc những vấn đề này. Tôi rất mừng vấn đề tôi nghiên cứu đã được sự quan tâm của bạn đọc. Một lần nữa tôi cảm ơn bạn!

thienthanxanh

tài liệu này rất bổ ích cho việc nghiên cứu và tìm hiểu về đô thị nhưng bài vẫn chưa đưa ra những loại đô thị đang có ở việt nam. và các cách phân loại chúng

cuongdlna

Thân gửi VKN

Có dám coopy cả không dài lắm đấy ! Không thể đưa lên hết được anh trích đôi đoạn thôi . Vì thế kết cấu có khác nguyên bản đấy . Cảm ơn em đã đọc nhé !

VKN

Anh Vương Cường

Anh Vương Cường ơi ! Đây đúng là tư liệu quý để tham khảo. Nhà thơ lại trở về với vị trí nhà khoa học rồi. Em copy lại nhé !

Vương Cường

@ Anh Vici!
"Trước hết khi chọn nơi ở đời sống vật chất đã đầy đủ chỉ có đời sống tinh thần mới thật sự là đích tìm kiếm của con người. Đời sống tinh thần sẽ trở nên vô cùng trong sự cách mạng của nó đối với con người" VC
_______

Hôm nay Thầy giáo chính trị lên lớp đấy à?
Hehe VC ơi! Em thấy cái VNWEBLOS này cũng là nơi chọn của đời sống tinh thần đấy!

PP ơi ! Đây chỉ chọn lọc lấy một phần bàn thêm về khái niệm ĐTH trước khi xem xét quá trình ĐTH ở VN thôi . Nhìn thấu suốt cả các quá trình ĐTH để biết đích còn xa lắm ! Không cưỡng lại được mà không cần cưỡng lại vì nó là khách quan ấy mà . Trên Vnweblogs đời sống tinh thần cụ thể chứ không như ĐTH đâu . Mai anh sẽ đưa tiếp tính hai mặt của ĐTH và ĐTH ở thành pgố HCM trong lịch sử nhé . Dù sao cũng không đưa hết được còn nhiều vấn đề tế nhị lắm !

Vương Cường

" Ôi mình mong có ngày đó lắm lắm
Đô thị hóa bi chừa đang song hành với suy đồi văn hóa đạo đức làm văng miểng cả dân đô thị chính gốc
Ui chao ơi tui thèm quá cái không gian đầy màu xanh trong lành của làng mạc ngày xưa "
Bạn yên tâm đi rồi bạn sẽ thấy trong công trình nghiên cứu này dần dần sẽ thấy tính hai mặt của ĐTH . ĐTH ở ta tính tự phát lớn như thế nào . Hơn 200 trang khô A4 hơn 600 trang kỷ yếu và hàng ngàn trang tài liệu liên quan đến ĐTH còn nhiều vấn đề mà tính trung thực trong tầm nhìn sẽ cho thấy tất cả . Tiếc rằng quá dài tôi sợ làm mọi người quan tâm mệt mỏi !
Dù bạn muốn hay không thì ĐTH vẫn cứ đến . Trong sự phát triển ấy có cái mất đi rất đáng tiếc vì tự phát đấy . Mong bạn đừng bi quan ! Cái màu xanh bạn nói đó khi quy hoạch các nhà quy hoạch rất quan tâm . Hiện nay diện tích cây xanh ở ta khoảng 3 - 5 mvuông người trong khi thế giới là 32 ! Cảm ơn bạn đã chịu khó đọc nhé . Tôi có đưa lên một số phần của một số công trình nghiên cứu tôi cũng bất ngờ số người đọc lớn lắm ! Bạn có thể đọc nó trong mục NGHIÊN CỨU nhé !

thyduong

Khi đô thị hoá ngược xảy ra con người đã ở một trình độ văn minh cao . Vấn đề quan trọng nhất không còn kinh tế mà là chất lượng sống. Người ta quan tâm đến an ninh môi trường tự nhiên và xã hội giáo dục y tế... Trước hết khi chọn nơi ở. Đời sống vật chất đã đầy đủ chỉ có đời sống tinh thần mới thật sự là đích tìm kiếm của con người. Đời sống tinh thần sẽ trở nên vô cùng trong sự cách mạng của nó đối với con người

Ôi mình mong có ngày đó lắm lắm
Đô thị hóa bi chừa đang song hành với suy đồi văn hóa đạo đức làm văng miểng cả dân đô thị chính gốc
Ui chao ơi tui thèm quá cái không gian đầy màu xanh trong lành của làng mạc ngày xưa