Nhưng thử nghiệm DNNN trước khi chuyển sang kinh tế thị trường - TS VƯƠNG CƯỜNG

                                             TS VƯƠNG CƯỜNG

         XNQD   là tên gọi trước đây của doanh nghiệp nhà nước (DNNN) được hình thành từ việc quốc hữu hóa các xí nghiệp tư bản tư nhân hoặc tiếp nhận các doanh nghiệp do chính quyền cũ để lại sau những năm 1954 và 1975. Trong quá trình cải tạo XHCN ở miền Bắc mô hình “công ty hợp doanh” ra đời nhà nước áp đặt luôn cơ chế quản lý như DNNN cùng với hoàn cảnh cụ thể của lịch sử lúc ấy nó cũng biến dần thành công ty xí nghiệp nhà nước. Quá trình phát triển nhà nước và cả địa phương chủ động xây dựng nhiều DNNN cho đến giữa thập kỷ 80 của thế kỷ XX chỉ khác nhau về cấp quản lý1.
         Dù thành lập dưới hình thức nào và thời gian nào DNNN đã trải qua bao nỗi thăng trầm cùng với sự phát triển vận động của nền kinh tế - xã hội đất nước. Với quan niệm kinh tế nhà nước là thành phần kinh tế giữ vai trò chủ đạo mang dấu ấn thể hiện tính chất đặc trung nhất của chế độ XHCN nên được quan tâm tạo mọi điều kiện để phát triển. Có một thời chúng ta đã coi sự phát triển của DNNN có quan hệ trực tiếp đến sự ổn định của chế độ chính trị XHCN. Trong hệ thống lý luận về thời kỳ quá độ chúng ta cho rằng nước ta tiến lên CNXH với nền kinh tế có hai thành phần kinh tế: quốc doanh
  và tập thể. Kinh tế tập thể là quá độ trong khi chưa nhà nước được vì trình độ mọi mặt còn thấp. Những thành phần kinh tế cá thể tư nhân tư bản tư nhân không được phép hoạt động bị cải tạo.
        Chúng ta tiến thẳng lên CNXH bỏ qua chế độ bóc lột người TBCN. Về lý luận việc bỏ qua một hình thái kinh tế - xã hội được lịch sử chấp nhận. Với nhận thức như vậy DNQD càng được củng cố vị trí “tối thượng” không có tranh chấp. Người ta đều cảm thấy “vinh dự” khi làm trong các DNNN. So với nông dân các HTX bao cấp có tính gián tiếp công nhân và DNNN bao cấp trực tiếp. Thu nhập công nhân được tính bằng tiền còn nông dân là sản phẩm của họ làm ra trong đó có công của tự nhiên. TLSX đối với công nhân là của nhà nước với nông dân ruộng đất của nhà nước. Không gian lao động công nhân là công xưởng nông dân là đồng ruộng.
Trước thời kỳ đổi mới đặc biệt là những năm tháng cuối cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước toàn bộ kinh tế - xã hội nước ta hoạt động trong cơ chế quản lý bao cấp điều này được thể hiện:Thứ nhất từ Trung ương đến các đơn vị cơ sở kinh tế theo sự chỉ huy tập trung thống nhất của Nhà nước. Thứ hai nền kinh tế khép kín kinh tế đối ngoại chỉ nhập khẩu trang thiết bị kỹ thuật từ các nước XHCN anh em hoặc được viện trợ để phát triển kinh tế nội địa. Thứ ba không thừa nhận kinh tế hàng hóa.Trong điều kiện đó DNNN hoạt động như gia công chỉ tiêu nhà nước giao vật tư được cấp phát theo kế hoạch nộp sản phẩm theo định kỳ. Nếu tăng sản lượng được biểu dương khen thưởng. DNNN dựa lưng vào cơ chế bao cấp yên tâm sản xuất trong môi trường nhân tạo cách li thị trường. Hoạt động kiểu rôbốt theo năm tháng tính năng động sáng tạo bị thủ tiêu không tự giác.Khi chiến tranh kết thúc đất nước thống nhất nhiệm vụ chiến lược xây dựng và phát triển kinh tế đặt lên hàng đầu thì những rào cản của cơ chế quản lý bao cấp bộc lộ. Các cơ cơ sở kinh tế quốc doanh và tập thể các DNNN phải đối mặt với “đời sống thật” đó là thiếu vật tư máy móc kỹ thuật hư hỏng và lạc hậu. Việc làm  thất thường chất lượng sản phẩm kém ít người mua. DNNN rơi dần vào khủng hoảng. Năm 1978 nhiều nơi công nhân nhà nước ăn bo bo thay gạo. Năm 1979 tiền lương bình quân của công nhân có nơi là 51 95 đ/tháng (Khu vực sản xuất vật chất thấp hơn khu vực không sản xuất)2. Nguồn sống chủ yếu dựa vào chế độ bao cấp qua tem phiếu cấp phát các nhu cầu tối thiểu. Những nhu cầu này phụ thuộc việc thu mua trong điều kiện sản xuất - xã hội bị ngưng trệ tê liệt. Tình trạng sản xuất của DNNN gặp khó khăn cả trực tiếp và lâu dài ít có dấu hiệu khắc phục. Một là vật tư - nguyên liệu nông nghiệp đang rơi vào khủng hoảng. Hai là máy móc công nghệ kỹ thuật quá cũ và lạc hậu nên tạo ra phế phẩm nhiều hơn sản phẩm3 (Nhà máy dệt 8-3 sản phẩm chiếm khoảng 50% còn 50% phế phẩm). Thứ ba Nhà nước thu mua với giá cực kỳ rẻ (Nhà máy dệt Thành Công sản xuất 1m vải cailicốt với giá 1 5 đồng Nhà nước mua 1 2 đồng giá thị trường tự do là 12 đồng)4. Việc mua giá rẻ một mặt ngân sách nhà nước thâm hụt do phải bù lỗ bù giá bù lương; mặt khác trực tiếp đánh vào người sản xuất tác động cộng sinh chi phí sản xuất không bù đắp được. Thứ tư công nhân không còn động lực làm việc do lợi ích kinh tế của họ không bảo đảm. Cơ chế bao cấp thời kỳ này chẳng những tiêu diệt hoàn toàn khả năng sáng tạo của công nhân mà còn nuôi dưỡng tính ỷ lại dựa dẫm một số len lỏi tìm lợi ích cá nhân trong các sơ hở của nó. Người công nhân bắt đầu tìm mọi cách tính toán để đảm bảo thu nhập trang trải đời sống. Thời gian nghỉ việc công nhân tỏa ra các hướng đi buôn và làm việc khác. Môi trường đó góp phần làm công nhân mai một dần những phẩm chất đặc trưng như ý thức tổ chức kỷ luật tính trung thực. Tình trạng lãi giả lỗ thật ăn cắp xuất hiện. Để ngăn chặn nhiều xí nghiệp bảo vệ lục soát công nhân đi làm có người lại bắt tay với số thoái hóa tiêu cực. Nhà nước kiểm soát trên các cung đường nền kinh tế khủng hoảng bế tắc lại thêm bị chia cắt. Bức tranh DNNN ở thời điểm 1979 mọi con đường giải thoát dường như đã bị bịt kín. Giống như nông dân công nhân cũng ít trông chờ vào thu nhập từ xí nghiệp. Khác với công nhân thu nhập của nông dân trực tiếp từ sản phẩm do họ làm ra trên cơ sở kết hợp tư liệu sản xuất được Nhà nước cho sử dụng và sức lao động của họ. Công nhân thu nhập qua tiền lương không có điều kiện kết hợp tư liệu sản xuất với sức lao động của mình trong không gian riêng. Nông dân giải thoát bằng khoán chui công nhân thì không thể mà họ chỉ chờ đợi vào sự thay đổi cơ chế. Tình cảnh kinh tế - xã hội ở thời điểm này tiêu điều tan hoang do cơ chế bao cấp thắt chặt và chống đỡ. Sự chậm trễ khắc phục kinh tế - xã hội xấu đi nghiêm trọng.
Lịch sử nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng có thời điểm khi bị dồn vào chân tường lại bỗng xuất hiện những tư duy xuất sắc tỏa sáng thu hút mọi người cùng tìm lối thoát mang dấu ấn lịch sử. Thời điểm 1979 cũng không nằm ngoài tính qui luật ấy.
       2. Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 6 Khóa IV tháng 8-1979 được tổ chức trong hoàn cảnh khủng hoảng kinh tế - xã hội đang khủng hoảng nghiêm trọng thực tiễn từ nông nghiệp đã hé lộ ra con đường mới có cơ sở nhất định. Hội nghị nhận định “thắng lợi của cách mạng nước ta thật là to lớn đồng thời những khó khăn mà ta vượt qua cũng rất to lớn. Điều đặc biệt quan trọng là người lao động  thiếu hăng hái sản xuất”. Nghị quyết cũng phê phán tình trạng tập trung quan liêu bảo thủ trong kế hoạch hóa nền kinh tế. Từ đó chủ trương chuyển dần nền kinh tế sang sản xuất hàng hóa nhiều thành phần với nhiều giải pháp "cho sản xuất bung ra và kiên quyết bỏ tình trạng "ngăn sông cấm chợ" khơi thông lưu thông hàng hóa. Những gợi ý từ kinh tế nông nghiệp lợi ích kinh tế quy định động lực sản xuất. Lợi ích kinh tế có được khi DNNN làm chủ quá trình sản xuất. Đảng chủ trương xác lập vai trò và quyền tự chủ sản xuất - kinh doanh khuyến khích lợi ích kinh tế của công nhân trong DNNN. Chính phủ ban hành các quyết định mở đường cho nền kinh tế nói chung và DNNN nói riêng. Quyết định 25/CP và 26/CP năm 1981 của Chính phủ về kế hoạch 3 phần và phân phối lưu thông.
         Những chủ trương quyết định này khi vào thực tiễn đã bước đầu khơi dậy được động lực kinh tế và DNNN bắt đầu chủ động tìm kiếm con đường làm ăn mới.
Trong kế hoạch 3 phần phần kế hoạch 3 như một ô cửa nhỏ được mở ra thông với thị trường xã hội. DNNN được tự cân đối vật tư tiền vốn định giá và tự tìm thị trường tiêu thụ sản phẩm lợi nhuận được sử dụng 80%. Mặc dù cơ chế quan liêu bao cấp vẫn còn ngự trị nhưng cơ chế thị trường sơ khai mặc dù còn thiếu nhiều yếu tố đã có chỗ đứng mặc dù đang còn rất nhỏ.
         Tuy vậy sự có mặt của cơ chế mới làm cho cuộc đấu tranh giữa hai cơ chế cũng đã hình thành chưa cân sức. Trong lĩnh vực nông nghiệp cơ chế thị trường tác động vào phần đất 5% và phần vượt khoán của nông dân. Giờ đây cơ chế thị trường tác động trong phần kế hoạch 3 của XNQD. Nhiều khi đám cháy lại bắt dầu từ một tàn lửa nhỏ. Sau Nghị quyết 6 khóa IV quan hệ hàng hóa - tiền tệ đã có mặt trong nền kinh tế và giờ đây cơ chế thị trường mang theo quy luật giá trị giá cả hay quan hệ cung - cầu vào nền kinh tế.  Sự tham gia của quan hệ hàng hóa - tiền tệ làm bùng lên dữ dội sự mất cân đối giữa hàng và tiền. Hàng không sản xuất được tiền mất giá và lạm phát đe doạ ngày càng cao. Khi đỉnh điểm lạm phát đã đạt 3 con số (gần 700%). Cuộc chiến về giá cả đã đẩy khoảng cách giữa giá trị và giá cả lên cao. 
           Tuy còn non trẻ nhưng là cái mới được chỉ đạo từ quy luật kinh tế khách quan cơ chế thị trường cần có thời gian và những quyết định đúng đắn tiếp tục của Đảng và Nhà nước nó sẽ lớn lên mạnh mẽ hạn chế tiếng nói có phần hoang dã của nó. Điều quan trọng của ô cửa Quyết định 25/CP và 26/CP mở ra thị
trường tác động ngược lại để yêu cầu con người cơ sở sản xuất sửa chữa những sai lầm chủ quan những nhận thức duy ý chưa tuân thủ quy luật kinh tế. Nó yêu cầu xử lý giá cả tiền tệ đòi hỏi phải năng động sáng tạo hướng về nó theo chỉ dẫn của nó để phát triển. Nó tạo ra cơ hội cho người sản xuất lạnh lùng xử lý nếu sai phạm.Cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội đang đến cao trào. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn 1976-1980 là 2% trong khi tốc độ tăng dân số là 2 4% nên mức thu nhập bình quân đầu người giảm sút nghiêm trọng.
Trong phần kế hoạch 3 thử nghiệm ban đầu cho thấy hai kết quả rõ rệt. Thứ nhất các xí nghiệp công nhân năng động hơn lợi ích kinh tế cải thiện hơn; thứ hai mặt trái của thị trường phát sinh nhiều tiêu cực một số cán bộ lợi dụng đã tìm cách vun vén làm giàu cho cá nhân.
        
Khắc phục tình trạng đó các quyết định của Chính phủ sau Nghị quyết 8 Khoá V đã mở rộng quyền dân chủ sáng tạo xác lập quyền tự chủ cho các đơn vị sản xuất kinh doanh lấy đơn vị cơ sở làm trung tâm của quá trình cải tiến quản lý. Đây cũng là những chủ trương quan trọng bước đầu trong tư tưởng đổi mới của Đảng tạo ra một không khí làm ăn mới trong DNNN. Tuy nhiên động lực kinh tế cũng bị tắt dần do chưa giải quyết được về mặt thực tiễn cơ chế quản lý. Năm 1981 giá nhà nước định quá thấp chênh lệch lớn với giá thị trường việc điều chỉnh đặt ra cấp thiết. Tổng điều chỉnh giá lần đầu được thực hiện bằng cách nâng giá nhà nước và giảm các mặt hàng cung cấp cho cán bộ. Sau điều chỉnh giá thị trường lại tăng cao hơn.
         Thực tiễn lại đòi hỏi phải điều chỉnh giá lần này lại kết hợp việc điều chỉnh tiền và tiền lương. Tháng 6 - 1985 tổng điều chỉnh một lần nữa với qui mô lớn hơn rốt cuộc rối loạn hơn. Năm 1986 đột biến giá siêu lạm phát giá thị trường tăng 600-700%. Ngân sách nhà nước bội thu nợ tín dụng tăng cao năm 1986 so với năm 1985 3 16 lần tương tự năm 1988 47 5 lần. Từ 1986 - 1988 chỉ số tăng giá 420-680%/1năm5.    
          Khi cơ chế quan liêu bao cấp còn tồn tại dai dẳng trong thực tiễn thì những chủ trương trên tự nó chưa tạo ra được sức giải phóng lớn.
Những chủ trương của Đại hội VI năm 1989 mới đi vào cuộc sống. Quá trình mò mẫm có do dự lúng túng. Đặc điểm lớn nhất của quá trình đổi mới ở nước ta là một quá trình cách mạng bắt đầu từ thực tiễn của quần chúng đông đảo thông qua sự tìm tòi và thử nghiệm. Cuộc đổi mới này không bắt đầu từ sách vở từ trên xuống được chủ động thiết kế và chưa có trong tiền lệ. Thực chất là cuộc cách mạng thay đổi cấu trúc kinh tế - xã hội. Thực tiễn cứ đi rồi thành đường.
        Lỗ Tấn từng nói “trên thế giới vốn chưa có đường mà đường do con người đi mà thành”. V.I Lê nin cũng nói “muốn biết bơi phải nhảy xuống nước”. Nói thế không có ý là hạ thấp vai trò lãnh đạo chỉ đạo của Đảng và Nhà nước. Thực tế đã chứng minh vai trò lãnh đạo của Đảng sự điều hành của Nhà nước là tiên quyết. Đảng ta đã luôn luôn bám sát thực tiễn lắng nghe nguyện vọng của quần chúng và định hướng chỉ đạo đi đúng với quy luật khách quan. Nghệ thuật lãnh đạo chỉ đạo của Đảng và Nhà nước kiên quyết đổi mới không trực tiếp tuyên chiến với cơ chế cũ lách qua tinh tế tự nhiên gieo mầm mới ngay trong cơ chế cũ. Cuộc đổi mới ở Việt Nam không gây chia rẽ bè phái đối cực ổn định chính trị-xã hội. Phải chăng đây là giải pháp tối ưu với một đất nước xây dựng CNXH trong điều kiện nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu vừa thoát ra khỏi chiến trạnh tự tìm  lấy đường đi phản ánh điều kiện nguyện vọng của nhân dân phù hợp khách quan để phát triển.
        Tư tưởng đổi mới luôn được thực tiễn hỗ trợ. Tư tưởng sách vở giáo điều được đời sống thực tiễn sôi động soi dọi. Các chỉ báo lúc này qua NQTƯ 6 (Khóa IV) Chỉ thị 100 của Ban bí thư qua Quyết định 25/CP và 26/CP của Chính phủ đã nhìn thấy con đường phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam mặc dù nhiều sóng gió. Raxun-Gam za tốp nói từ làng của tôi có nhiều con đường nhỏ ngoằn nghèo tìm về đại lộ để ra thành phố. Phải chăng đây là thời điểm mọi người mọi lĩnh vực đang trên những con đường đó để đến cơ chế mới?
         3. Thực tiễn trước năm 1986 sôi nổi phong phú do các địa phương các ngành tìm kiếm con đường để phát triển. Tổng kết thực tiễn Đảng đã phát hiện đúng con đường thay đổi cơ chế để phát triển. Việc thay đổi các văn kiện đã chuẩn bị trình Đại hội VI chưa bao giờ có cho thấy sự tôn trọng thực tiễn nguyện vọng của nhân dân và yêu cầu của thực tiễn khách quan. Lịch sử đã chứng minh đó là mốc lớn có thể so với năm 1945. Đánh giá lại vấn đề này Đại hội VI chỉ rõ: “Phải đổi mới  cơ chế quản lý bảo đảm cho các đơn vị kinh tế quốc doanh có quyền tự chủ thực sự chuyển sang hạch toán kinh doanh XHCN lập lại trật tự kỷ cương trong hoạt động kinh tế. Sắp xếp lại sản xuất tăng cường cơ sở vật chất – kỹ thuật và đẩy mạnh việc ứng dụng tiến bộ kỹ thuật để nâng cao năng suất chất lượng và hiệu quả. Trên cơ sở đó ổn định và từng bước nâng cao tiền lương thực tế của công nhân viên chức tăng tích luỹ cho xí nghiệp và cho Nhà nước”. Đại hội VI cũng khẳng định vai trò chủ đạo của kinh tế quốc doanh đã đưa ra quan điểm coi chủ đạo không có nghĩa phải chiếm tỷ trọng lớn trong mọi ngành mọi địa phương mà thể hiện ở “năng suất chất lượng hiệu quả”.Kinh tế quốc doanh trở thành trung tâm của tiến trình đổi mới. Do đó từ năm 1987 trở đi các DNNN thực sự chuyển sang hạch toán kinh doanh. Quan điểm này được cụ thể một bước trong HNTƯ 3 (Khóa VI năm 1989) xí nghiệp quốc doanh chuyển sang hoạt động tự chủ hạch toán kinh doanh đồng thời đổi mới cơ chế quản lý Nhà nước về kinh tế bảo đảm quyền tự chủ cho các đơn vị cơ sở. Quyết định 217-HĐBT ngày 14-11-1987 ban hành các chính sách đổi mới kế hoạch hóa và hạch toán kinh doanh XHCN đối với DNNN và Quyết định ban hành những quy định bổ sung QĐ 217-HĐBT ngày 14-11-1987 của HĐBT ngày 2-12-1989 đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng đối với DNNN từ cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế hạch toán kinh doanh XHCN trên cơ sở được tự chủ sản xuất kinh doanh góp phần tháo gỡ những khó khăn thúc đẩy sản xuất phát triển.
Tuy vậy điểm yếu của kinh tế quốc doanh là hiệu quả hoạt động còn thấp. Một bộ phận lớn DNNN nhất là các cơ sở do quận huyện quản lý đang rất khó khăn. Để kinh tế phát triển vấn đề kìm chế và đẩy lùi lạm phát là một nhiệm vụ cấp bách và cơ bản đang đặt ra.
        Hơn mười năm trước đông đảo quần chúng nhân dân đã tìm tòi thử nghiệm dưới dự lãnh đạo chỉ đạo của nhà nước đã tìm ra con đường chuyển sang cơ chế thị trường. Giờ đây các cơ sở kinh tế đã đi vào quỹ đạo của nó. Siêu lạm phát đang cản trở sự phát triển kinh tế - xã hội. Để tìm ra giải pháp khắc phục Đảng huy động các nhà khoa học xác định nguyên nhân và đề xuất các giải pháp. Đảng và nhà nước đã đưa ra 5 giải pháp xử lý tiền tệ sau đây:- Đình chỉ phát hành ngừng cung cấp tiền giấy vào lưu thông 6 7 tháng đầu năm 1989.- Giảm phát hành tín dụng bằng biện pháp ngân hành rút định mức tín dụng.- Nâng lãi xuất tiết kiệm lên 12% một tháng rút bớt tiền thừa trong lưu thông về ngân hàng trong thời gian ngắn đã được 3 nghìn tỷ đồng.- Sử lý đối với ngoại tệ bằng cách chấp nhận tỷ giá hối đoái thực tế.
- Cho kinh doanh vàng bạc.
         Những giải pháp này đã góp phần đẩy lùi được lạm phát. Chỉ số tăng giá cả năm 1989 là 2 6%6.Giải quyết được lạm phát đã đẩy các DNNN vào thế khó khăn trực tiếp. Sự “hy sinh” của DNNN có ý nghĩa to lớn trong việc xử lý môi trường để phát triển toàn bộ nền kinh tế.  Mặc dù thế vẫn tạo các điều kiện tốt hơn cho DNNN trong tương lai.
Cổ phần hóa các DNNN hiện đang là giải pháp có nhiều hy vọng nhằm đổi mới các doanh nghiệp Nhà nước. Nhưng một doanh nghiệp Nhà nước cổ phần hóa thành công phải có điều kiện cần và đủ.  Điều kiện cần là doanh nghiệp đó có tiềm năng chịu được cạnh tranh mở rộng được thị trường trong và ngoài nước chuyển sang hạch toán thực sự… Điều kiện đủ là có giám đốc giỏi công nhân nhất trí đoàn kết và có khả năng mua được cổ phần. Do đó để có thể tiến tới cổ phần hóa thuận lợi các doanh nghiệp trước hết phải làm ăn có lãi hoàn thiện cơ chế khoán đến nhóm và người lao động cũng như tự hạch toán kinh doanh.
            Thực hiện đường lối chủ trương Đại hội VII Chính phủ đã ra hàng loạt quyết định quan trọng về đổi mới kinh tế quốc doanh như Nghị định 388/HĐBT (11-1991) các quyết định 90 và 91/TTg (3-1994) Nghị định 56/CP (10-1996) Nghị định 59/CP (6-1996). Với tư tưởng bao trùm là quyết định sắp xếp lại kinh tế quốc doanh và cổ phần hóa DNNN như một giải pháp quan trọng nhất. Sau Quyết định 388/HĐBT tính đến cuối 1993 còn khoảng 6.000 doanh nghiệp Nhà nước. Trong đó chỉ có khoảng 200 đơn vị là đầu tư đúng hướng bám sát thị trường làm ăn có hiệu quả. Vẫn còn hơn 30% số xí nghiệp làm ăn thua lỗ bị giải thể sát nhập chuyển sở hữu. Những tìm tòi thủ nghiệm đối với DNNN cùng với quá trình đổi mới cơ chế quản lý kinh tế đã mang đến kết quả cơ chế bao cấp bị xóa bỏ và cơ chế thị trường được xác lập trong thực tế. Từ đây cùng với các thành phần cơ sở kinh tế khác DNNN đã bước vào quỹ đạo cơ chế mới nhiều thuận lợi nhưng lắm thách thức.
 DNNN luôn đứng đầu mũi sóng ngọn gió cạnh tranh cả trong và ngoài nước. DNNN đang sản xuất bất kỳ mặt hàng nào đều tuyên chiến với doanh nghiệp và các quốc gia sản xuất mặt hàng đó. Giai đoạn tìm tòi thử nghiệm kết thúc cũng là mở đầu cho cuộc cạnh tranh trong điều kiện hội nhập và toàn cầu hóa kinh tế. Sự lạc hậu lý luận đã làm chậm bước tiến của kinh tế - xã hội nói chung của DNNN nói riêng. Do vậy nghiên cứu lại quá trình tìm tòi thử nghiệm phát triển DNNN trước khi chuyển sang kinh tế thị trường ở Việt Nam như những gợi ý trong điều kiện mới khi kinh tế thị trường đã vào Việt Nam gần 20 năm thì việc nghiên cứu
lý luận trở lên cấp bách để kinh tế và DNNN có thể đứng vững và phát triển.


 
1. Xem thêm đề tài khoa học cấp Bộ năm 1999-2000: “Kinh tế Nhà nước và quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước - Những vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam do PGS TS Ngô Quang Minh làm Chủ nhiệm Học viện CTQG Hồ Chí Minh là cơ quan chủ trì Hà Nội năm 20012.  Xem thêm: Tổng kết đổi mới quản lý kinh tế 1980 - 2000- Tỉnh uỷ Long An.3. Tình trạng công nghệ -  kỹ thuật - máy móc: ở thành phố Hồ Chí Minh năm 1993: 60 6% cơ sở quốc doanh máy móc thiết bị trung bình; 35 5% lạc hậu. Xem Trần Thị Nam Trân nâng cao trình độ công nghệ của một số lĩnh vực công nghiệp trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay Luận văn Thạc sỹ Kinh tế H.1999.4. Xem: Đêm trước đổi mới - http://www.tuoitre.com.vn 5. Học viện CTQG Hồ Chí Minh - Một số vấn đề về quản lý vĩ mô nền kinh tế thị trường ở nước ta CTQG H 1993 tr.32 336. Xem Định hướng và giải pháp chuyển sang nền kinh tế thị trường ở nước ta. Tài liệu tham khảo phục vụ lãnh đạo nghiên cứu và giảng dạy số 11/92. Trung tâm Thông tin tư liệu Học viện Nguyễn Ái Quốc H 1992 tr.57. 

VC

Gửi TDN

Từ thực tiễn đến nhận thức là một thử thách quá lớn đối với rất nhiều người . Từ nhận thức đến hành động lại còn thử thánh hơn với số đông hơn . Chúng ta vốn xuất thân từ nền nông nghiệp nơi sản sinh ra tư duy kinh nghiệm lại luộc qua bao cấp quá lâu . Việc quan trọng là cơ chế thị trường đã chiến thắng bước đầu cơ chế quan liêu bao cấp . Trong cuộc đấu tranh đó chắc anh còn nhớ có vị cán bộ cao cấp đã nói bước xuống sân bay TSN dã nghe mùi TB mùi Nam Tư rồi chứ . Diều quan trọng là không phải tư tưởng đó (của một cá nhân đại diện) chiến thắng mà đã thất bại hoàn toàn . Vậy nếu nói có sự cản trở của từng cá nhân trong quá trình phat triển là đúng . Nhưng nói tất cả bộ máy thì sai ! Cơ chế thị trương đòi hổi con người phải nhận thức tự giác thì chúng ta vẫn còn chủ yếu là tự phát . Điều này có quan hệ với nhận thức ở trên của tôi . So với toàn bộ nền kinh tế và điều kiện cụ thể thì đầu tư cho nong nghiệp không nhỏ ( tôi có số liệu ) nhưng do lúng túng trước cơ chế mới về cách làm ăn những tật xấu của con người đang ở trình độ kinh tế thấp có khi phat triển nên không biến đầu tư đó có hiệu quả cao đươc . Nông nghiệp và nông dân nông thôn vẫn là bài toán khó giải hiện nay . Đã xem GDDT KHCN là quốc sách hàng đầu nhưng gd và kh của ta không vì thế mà phat triển tốt . Vấn đề vẫn ở chỗ chúng ta phải giải bài toán khó trong khi trìng độ thấp . Ta vốn quen được muqf nông dân sướng mất mùa ND khổ nay được mùa có khi còn khổ hơn ! Nhưng tôi lại tin rằng cần có thời gian nhân tố mới đã và sẽ xuất hiện . Hôm qua tôi có dự một buổi tọa đàm nhỏ có người cho rằng nhân tố mới nhân lực mới đang xuất hiện sau 10-15 năm nữa . Cảm ơn anh dã đọc tôi rất thú vị được trao đổi với nhau tiếc không gian hẹp quá không nói hết được có sơ suất xin lưỡng thứ nhé . Chuc sức khỏe và viết hay TDN nhe !

TDN

Chào anh Vương Cường

-Tôi đã đọc kỹ 2 bài nghiên cứu của anh và cả thơ anh nữa. Anh viết sâu kỹ. Những vấn đề vĩ mô. Thật tình tôi ít am hiểu những câu chuyên vĩ mô này nên không dám lạm bàn kẻo lại thành kẻ "múa rìu..."
-Vấn đề nông nghiệp và nông thôn: Từ quãng những năm 80 khi trong tất thảy các văn kiện của Đảng đều xếp nông nghiệp là "mật trận hàng đầu" tôi đã không nín cười được và viết những dòng này "Nếu gọi nó là mật trận hàng đầu thì thử hỏi đã đầu tư gì cho nó làm được gì cho nó? Và tại sao người nông dân những "người lính" trên mật trận hàng đầu ấy vẫn luôn mãi thua thiệt so với những người lính ở các mật trận khác?"
Tôi nói vậy không biết có trật? Vấn đề vĩ mô quá chỉ nói... đại vậy không dám lạm bàn nhiều anh ạ! Kính chúc anh vui khỏe. Trân trọng!