Nội sinh văn hóa Việt Nam: Trường hợp giao lưu văn hóa Pháp trước 1945 - VƯƠNG CƯỜNG

Nội sinh văn hóa Việt Nam: Trường hợp giao lưu văn hóa Pháp trước năm 1945

TS VƯƠNG CƯỜNG


      Trong suốt chiều dài lịch sử văn hóa Việt Nam liên tục có sự giao lưu với văn hóa khu vực và thế giới. Văn hóa được nói tới ở đây là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần được tạo ra trong suốt quá trình lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta.

Đây là vấn đề lớn cần nhiều thời gian và công sức nghiên cứu. Trong khuôn khổ bài viết này chúng tôi chỉ nhắc đến một trường hợp văn hóa Pháp để minh họa nó có ảnh hưởng lớn đến văn hóa Việt Nam thời hiện đại.

      Năm 1858 sau khi xâm lược nước ta Thực Dân Pháp từng bước thiết lập chế độ chia để trị trực tiếp nắm giữ các chức vụ chủ chốt trong bộ máy nhà nước. Ảnh hưởng văn hóa Pháp tăng lên mạnh mẽ khi Pháp bình định xong và bắt đầu khai thác thuộc địa ở Việt Nam. Văn hóa Pháp ảnh hưởng đến Việt Nam dường như tỷ lệ thuận với chính sách khai thác đó.

 

1.    Ảnh hưởng từ Văn hóa vật chất

 

      Dưới chế độ phong kiến đô thị Việt Nam đều nhỏ bé từ kinh đô Phú Xuân đến Thăng Long Gia định…Xã hội tiểu nông không đủ sức phát triển ngay cả thị thành. Nền sản xuất hàng hóa bị kìm chế chưa xuất hiện để tạo ra sự đòi hỏi mạnh mẽ phát triển hạ tầng giao thông. Tất cả đường quốc lộ nối liền Bắc – Trung – Nam và tỉnh lộ đều là đường đất. Những hải cảng Hội An hay Phố Hiến một thời sầm uất cũng bị bồi lấp.

      Người Pháp đã xây dựng các đô thị quan trong phục vụ cai trị và khai thác thuộc địa trên toàn Đông Dương như Hà Nội Hải Phòng Nam Định Vinh Đà Nẵng Quy Nhơn Nha Trang Đà Lạt Sài Gòn Chợ Lớn Huế Mỹ Tho… Xây Cảng nhà rồng nhà máy điện Chợ Quán xưởng sửa chữa tàu thủy Ba Son nhà máy rượu Bình Tây bia Hà Nội. Cầu Long Biên khánh thành năm 1902 nhà hát lớn Hà Nội năm 1911… Đặc biệt năm 1885 chuyến tàu đầu tiên chạy từ Sài Gòn đến Mỹ Tho đánh dấu sự ra đời của đường sắt VN. Thời gian từ 1899 đến 1936 Pháp xây xong đường sắt Bắc Nam. Quả thật đường sắt chạy tới đâu thì văn minh chạy tới đó ao tù phong kiến đã rộn ràng hơn nhờ sự giao lưu.

      Các đô thị bắt đầu trở nên sầm uất nền công nghiệp bắt đầu phát triển. Pháp tiếp tục xây dựng các nhà máy nước nhà máy đèn nhà máy tơ nhà máy dệt nhà máy in nhà máy xe lửa Gia Lâm Vinh Quy Nhơn…Các xí nghiệp khai khoáng than vàng thiếc…Các bệnh viện và trường đại học Đông Dương Bách Nghệ Y khoa trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông dương…

      Từ xã hội phong kiến Việt Nam dần chuyển sang xã hội nửa phong kiến nửa thực dân. Chính cái phần nửa thực dân này xét về mặt xã hội hóa nước ta đã vận động xa hơn nhiều so với cả ngàn năm như đứng yên. Xã hội bắt đầu xáo trộn phân hóa mạnh hơn. Nhờ đó đã vô tình mở ra cánh cửa cho trí thức VN tiếp xúc với nên văn hóa Pháp pha loãng tính thủ cựu sau lũy tre làng.    

Phía sau kinh tế - xã hội là văn hóa. Thực dân Pháp xây dựng nhằm vơ vét tài nguyên của cải về làm giàu cho chính quốc người Việt bị bóc lột thậm tệ hơn trước. Sự tha hóa con người ngày một sâu sắc hơn trong cái xã hội như lẽ tự nhiên. Mặt khác việc chúng xây dựng các đô thị cũng như phát triển công nghiệp đã mang lại sự nhận thức văn hóa mới cho người Việt Nam. Xã hội với cấu trúc tứ dân (Nông công thương trí) đã có những đổi thay. Công và thương phát triển nhanh hơn làm xuất hiện giai cấp công nhân và lực lượng trí thức tiến bộ.

      Kiến trúc Pháp đã mang đến vẻ đẹp không chỉ thẩm mỹ Pháp mà còn mang dáng dấp Việt Nam. Sự chuẩn mực chi tiết vẻ đẹp tổng thể đã góp phần thay đổi nhận thức thẩm mỹ. Quy hoạch đô thị Pháp quan tâm đến cả chi tiết nhỏ của người sử dụng. Cư dân đô thị được tiếp nhận phong cách văn hóa cao hơn. Vậy là bên cạnh những quan niệm thẩm mỹ truyền thống có sự đan xen nhất định thẩm mỹ hiện đại. Phong cách và lối sống ít nhiều thay đổi. Áo the khăn xếp guốc mộc đã dần thay đổi và người dân thành thị và trí thức đã dần chấp nhận quần áo âu tây. Hình ảnh trí thức công chức Hà Nôi mặc quần áo soocs trắng mũ cát trắng miệng ngậm tẩu tay cầm batoong còn trong trí nhớ nhiều người.

 

2. Ảnh hưởng từ Văn hóa tinh thần

 

      Mặc dù giáo dục đào tạo chủ yếu đào tạo ra những người phục vụ cho chế độ thực dân và nhằm mục đích khai thác thuộc địa nhưng bên cạnh đó ý nghĩa phái sinh cũng dần được lập trật tự mới. Người Việt Nam giàu có bắt đầu cho con em du học tại Pháp hoặc trường do TDPháp lập ở các đô thị lớn. Khi trí tuệ được khai mở thì văn hóa cũng được phát triển hơn nhờ các cuộc giao lưu.

      Sự tha hóa xét một khía cạnh đối lập cũng là bước tiến lên của lịch sử đang tích lũy. Những chính sách của thực dân Pháp lại có tác dụng phái sinh nhờ đó một số người VN được học tập tiếp xúc với một xã hội khác tiến bộ hơn. Kết quả của các cuộc giao lưu làm xuất hiện nhiều thay đổi trong văn hóa Việt Nam rõ nét nhất ấn tượng nhất trong văn hóa tinh thần là sự hình thành và phát triển nền văn học Việt Nam điển hình nhất là văn học 1930 – 1945.

      Cuộc cách mạng thơ mới ở nước ta nổ ra và thành công bước đầu từ 1930 -1945. Năm 1917 trên Nam Phong tạp chí đã kêu thơ VN phiền phức luật lệ ràng buộc. Năm 1932 Tình già của Phan Khôi xuất hiện trên Phụ nữ tân văn tự do không theo đường luật. Đó là ngọn gió đầu tiên bắt đầu từ một nhà "cựu học" thổi vào thơ VN tự nhiên phóng khoáng được lớp trẻ và đông đảo bạn đọc đón nhận dù yếu ớt những người cổ học chống đối. Những nhà thơ tuổi đời còn rất trẻ như Thế Lữ Lưu Trọng Lư Xuân Diệu Chế Lan Viên Huy Cận Hàn Mặc Tử Lan Sơn Tế Hanh Nguyễn Xuân Sanh Nguyễn Nhược Pháp Nguyễn Bính...gặp gió mới tạo ngay  thành cơn bão lớn. Ngay cả Bích Khê khi xuất hiện trình làng bằng đường luật cũng lập tức theo thơ mới.

      Thơ mới đã góp phần làm cho thơ gần với con người nhất là trí thức trẻ gần với thiên nhiên cùng với thiên nhiên ngân vang tình yêu. Thơ trở về từ cảm xúc như tiếng hót không kìm được của họa mi khi trăng lên chứ không phải bóp trán nhăn mặt tìm điển tích niêm luật...Trước đó ở Việt Nam chủ yếu là thơ đường một thể thơ được du nhập vào từ Trung Quốc và thơ lục bát được xem là hồn dân tộc. Bạn có thấy rằng thơ là tình là cảm của con người được cất lên hay thoát ra từ bối cảnh lịch sử cụ thể trong đó yếu tố đầu tiên là kinh tế - xã hội văn hóa…nguồn gốc của những buồn vui đau khổ hay hạnh phúc. Ngay với nhà thơ Xuân Diệu từng viết: Cơm áo không đùa với khách thơ đó sao?
      Kinh tế - xã hội chỉ mới tác động chứ chưa thể có thơ nếu thiếu nhân vật chính đó là các nhà thơ. Những người có khả năng đặc biệt tinh tế trước những tác động thay đổi trong tình cảm của mình với mình và với nhiều người. Thật may mắn cho chúng ta ở giai đoạn này có nhiều tài thơ được sản sỉnh ra từ trong bối cảnh lều chõng đã suy tàn và tây học đang lên ngôi. Những nhà thơ - trí thức này đã tiếp xúc với nền văn hóa giáo dục Pháp  không chỉ mang trong mình truyền thống văn hóa dân tộc mà còn biết tiếp thu tinh hoa nhân loại. Sự kết hợp này làm cho thơ mới tuy chưa thật phản ánh được tinh thần đời sống người Việt Nam với văn hóa riêng nhưng một bộ phận thích hợp và tạo ra dấu hiệu bản sắc riêng không phải lai căng.
      Không chỉ các nhà thơ hòa mình vào cơn bão lớn mà lịch sử còn tạo ra một lớp bạn đọc mới đòi hỏi và tiếp nhận thơ mới. Tầng lớp bạn đọc này đa số và trước hết những người có học có ảnh hưởng từ nền giáo dục Pháp. Trong số các nhà thơ khăn xếp áo the guốc mộc Xuân Diệu nói như nhà phê bình thơ thiên tài Hoài Thanh xuất hiện với bộ comble ca vát giày tây lộng lẫy ban đầu xa lạ với những người xung quanh nhưng lại rất được lớp trẻ mến mộ. Vì thơ ông vẫn mang sâu đậm văn hóa dân tộc không hề xa lạ với bạn đọc. “Con cò trên ruộng cánh phân vân” hình ảnh đó rất Việt Nam. Từ đó không chỉ lớp trẻ mà ngay cả những người già cũng dần chấp nhận ông.

      Nếu thiếu đi tầng lớp bạn đọc mới có thể thơ mới chưa được tiếp nhận và phát triển nhanh chóng   nồng nhiệt như thế.

Các yếu tố chủ yếu để tạo nên phong trào như đã có nên thơ mới phát triển nhanh chóng thơ cũ bị đẩy lùi. Một bước tiến xa góp phần cho văn hóa Việt Nam độc lập phát triển tự tin trong giao lưu. Người ta tìm đọc nó chứ  thơ  không mất công tìm họ. Đây là lần đầu tiên người đọc với khao khát cái mới đi tìm thơ. Và quả thật thơ đã đáp ứng một phần nhu cầu của họ. Lần đầu tiên tình yêu được bộc bạch dưới nhiều cấp độ với nhiều cung bậc mà trước đó con người khao khát ít thấy trong thơ. Chế độ phong kiến hà khắc cấm đoán tình yêu “nam nữ thụ thụ bất thân”như vỡ ra và người ta tìm đến thơ như cái mới được chia sẻ thơ tình với nhiều hình ảnh đẹp:

Bóng ai thấp thoáng ngoài hiên vắng

Em đã vô tình vội ngẩng lên

(Lan Sơn)

      Nền văn học nước nhà trong giai đoạn này còn lấp lánh bởi văn học hiện thực phê phán. Nhiều nhà văn xuất sắc đại diện như Vũ Trọng Phụng với Số đỏ Giông tốp Nguyến Công Hoan với Kép Tư Bền Bước đường cùng Ngô Tất Tố với Việc làng Tắt đèn Nam Cao với Chí Phèo Sống mòn…Hàng loạt tác phẩm từ thơ ca đến văn xuôi kịch…cho thấy văn học Việt Nam đã hút được tinh hoa văn hóa Pháp nói riêng và phương Tây nói chung. Văn hóa Việt Nam mang hồn dân tộc Việt Nam đó là nguồn gốc tiếp nhận được tinh hoa văn hóa nhân loại nói chung và văn hóa Pháp nói riêng trong các cuộc giao lưu. Sự phát triển của văn học hiện đại gắn liền với sự hoàn thiện chữ quốc ngữ. Vai trò Hán tự dường như chấm dứt giới trí thức Tây học sử dụng Pháp ngữ để đọc và chữ quốc ngữ để viết. Tiếng Việt ngày càng phong phú đủ khả năng diễn đạt những khái niệm trừu tượng. Qua giao lưu nhiều từ vững gốc Pháp được du nhập làm giàu cho ngôn ngữ tiếng Việt.

      Tuy nhiên cả thơ mới và văn học hiện thực phê phán còn nhiều hạn chế dường như chưa thể đòi hỏi hoàn thiện. Những cái nhìn bế tắc loanh quanh với cái tôi chưa nhìn thấy hoặc rất ít thấy người làm thay đổi lịch sử chính là những người lao động lầm than là con đẻ của chính sách khai thác thuộc địa của Pháp và người nông dân chân lấm tay bùn làm thuê nghèo kiệt trên đồng ruộng và xóm làng xơ xác kia. Muốn nhìn thấy họ cần lột xác lần nữa…

      Nhiều cuộc tranh luận hay đấu tranh tư tưởng mặc dù chưa phân thắng bại nhưng nhờ đó mà nhiều tư tưởng mới ăn sâu vào thực tiễn đời sống. Cuộc tranh luận nghệ thuật vị nghệ thuật và nghệ thuật vị nhân sinh nổ ra trong điều kiện các luồng tư tưởng mới cũ va chạm vào nhau. Những quan điểm hoàn toàn mới của Đảng cộng sản qua tranh luận bước đầu đã thổi luồng gió mới vào thực tiễn văn hóa Việt Nam. Đó là lần đầu tiên quan điểm Mác Lê Nin thâm nhập vào đời sống trước hết là đời sống tinh thần đời sống văn hóa. Chính những quan điểm này dần dần thành chủ đạo nền văn hóa Việt Nam làm cho Văn hóa ngày càng vươn tới xu hướng trọn vẹn có ý nghĩa thiết thực phục vụ nhân dân lao động vực họ đứng dậy người sẽ làm chủ xã hội trong tương lại. Những quan điểm này và sau này đường lối văn hóa của ĐCS Việt nam đã mở đường cho văn hóa trong đó có văn học hướng tới đời sống thực tiễn và khắc phục sự bế tắc trong văn học 1930 – 1945.

       Tư tưởng thống trị tuy còn độc tôn nhưng những nhân tố mới đã đan xen chia cắt và lớn dần lên. Văn hóa Việt Nam thời này còn đánh dấu sự ra đời của một thế hệ họa sỹ tài hoa lừng danh cho nước ta như Tô Ngọc Vân Trần Văn Cẩn Bùi Xuân Phái Dương Bích Liên…Họ là những sinh viên Việt Nam đầu tiên được đào tạo tại Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông dương do người Pháp sáng lập. Những tên tuổi này cho đến hiện nay gần như chưa có ai vượt qua. Ảnh hưởng của họ rất lớn trong sự phát triển hội họa Việt Nam hiện đại. Nhiều lĩnh vực khác như tân nhạc kiến trúc ẩm thực…cũng thay đổi nhanh chóng nhờ có sự giao lưu…
       Vì sao có một giai đoạn bừng lên trong văn hóa mặc dù chưa hoàn thiện?

Thứ nhất cái tôi cá nhân chủ nghĩa từ văn hóa Pháp tác động. Các nhà thơ nghệ sỹ họa sỹ say sưa với cái đẹp thuần túy vĩnh hằng. Chữ Hán tiếng Hán mất dần ảnh hưởng một luồng gió mới đã thổi vào xã hội Việt Nam. Chữ quốc ngữ và tiếng Pháp dần chiếm lĩnh vì nó đại diện tính dân tộc và tính hiện đại trong ý thức vượt lên của người dân. Tầng lớp trí thức Tây học đã hình thành. Nhiều trí thức Tây học xuất sắc có tầm ảnh hưởng lớn ra đời. Báo chí cũng đang phát triển và mang lại nhiều làn gió mới như Nam Phong tạp chí hay Đông dương tạp chí…

Thứ hai Chủ nghia lãng mạn trong văn học Pháp có tác động lớn.

Thứ ba lý luận Mác xít thâm nhập vào Việt Nam theo hai con đường. Một là sự ra đời của ĐCS Pháp và sự xuất hiện văn học hiện thực XHCN và lý luận văn học Macxit tại Pháp ảnh hưởng vào nước ta. Hai là Đảng Cộng Sản Đông dương

chủ động tuyên truyền. Cuộc tranh luận nghệ thuật vị nghệ thuật nghệ thuật vị nhân sinh những cuộc đấu tranh tư tưởng giai đoạn này cũng góp phần làm cho văn học thời kỳ này có ảnh hưởng tư duy mới.

Tuy nhiên không chỉ văn học mà phê bình văn học hội họa kiến trúc âm nhạc lối sống cũng ảnh hưởng.

      Cần chú ý bên cạnh những tiến bộ thì ảnh hưởng tiêu cực từ văn hóa Pháp tới văn hóa Việt Nam cũng rất lớn. Chính sách văn hóa nô dịch thực dân chính sách mỵ dân các học thuyết tư sản và duy tâm cũng ảnh hưởng nặng nề. Ảnh hưởng tiêu cực rõ rệt nhất là dưới ách cai trị của thực dân pháp con người Việt Nam bị tha hóa nhanh chóng. Vì mục đích phục vụ chính sách cai trị vơ vét tài nguyên của cải của nước ta nhân dân ta bị cai trị bị bóc lột nặng nề. Ở thành phố đã xuất hiện Tám Bính Xuân Tóc đỏ…Ở nông thôn đã xuất hiện Chí Phèo anh Pha chị Dậu…Xã hội Việt Nam tiêu điều xơ xác. Giáo dục Pháp mục đích chủ yếu đào tạo người làm việc cho thực dân cam phận làm tay sai. Nhưng nhiều trí thức mang trong mình văn hóa Việt Nam không chỉ thuận chiều. Đó cũng là cơ hội để những tư tưởng mới bản lĩnh văn hóa Việt Nam chứng tỏ mình. Đó cũng là môi trường tốt khi tư tưởng cách mạng Mac xít thâm nhập và được nuôi dưỡng phát triển nhanh chưa từng có. Lịch sử cũng chứng minh văn hóa Việt Nam khi có lý luận Mác Lê nin thì lập tức có sự thay đổi về chất làm nên cuộc cách mạng 1945 lật đổ hoàn toàn chế độ áp bức bóc lột của thực dân Pháp và phong kiến Việt Nam.

Như trên chũng tôi đã phân tích trong sự giao lưu văn hóa Pháp – Việt hệ quả phái sinh nằm ngoài ý tưởng của thực dân Pháp. Điều này chỉ chứng tỏ văn hóa Việt Nam tự nó có nội lực để tự bảo vệ mình và tận dụng điều kiện để vượt lên. Chính sách ngu dân bần cùng hóa người lao động Việt Nam sự bóc lột thậm tệ của thực dân Pháp sự tha hóa con người trong xã hội hai tầng áp bức thực dân và phong kiến sự tích lũy văn hóa Việt Nam luôn đặt thực dân Pháp và chế độ phong kiến vào thái độ đề phòng chống lại nhân dân Việt Nam. Sự phát triển tất yếu của lịch sử và sự tích lũy đến độ đã cho thấy văn hóa Việt Nam chưa bao giờ bị đồng hóa. Chọn lọc văn hóa tiến bộ của nước Pháp và nhiều trào lưu các nước khác đã chứng tỏ sức sống bền bỉ luôn tích lũy và khi cơ hội đến sức mạnh của văn hóa Việt Nam đã thể hiện trong sự quyết dành độc lập tự do như thế nào…

 

 

Tài liệu tham khảo và có sử dụng chính:

1. Toàn cầu hóa – phương pháp luận tiếp cận

GS Nguyễn Đức Bình…

NXB Chính trị quốc gia H 2001

2. Toàn cầu hóa những vấn dề lý luận và thực tiễn

GS.TS Lê Hữu Nghĩa TS Lê Ngọc Tòng(Chủ biên)

NXB Chính trị quốc gia H. 2004

3. Xu thế toàn cầu hóa trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI

(Sách tham khảo)

GS.TS Lê Hữu Nghĩa PGS TS Trần Khác Việt…(Đồng chủ biên)

NXB Chính trị quốc gia H. 2007

4. Văn hóa Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế

Nguyễn Chí Bền (chủ biên)

NXB chính trị quốc gia H.2010

5. Văn hóa Đông Á trong tiến trình hội nhập

(Sách tham khảo)

Đỗ Tiến Sâm Phạm Duy Đức (Chủ biên)

NXB Chính trị quốc gia H. 2010

6. Đặc trưng Văn hóa – Dân tộc 

Nguyễn Đức Tồn

NXB KHXH H. 2008