Những thử nghiệm trong lĩnh vực nông nghiệp trước khi chuyển sang kinh tế thị trường - TS VƯƠNG CƯỜNG

TS VƯƠNG CƯỜNG


...Thực tiễn cuối những năm 1970 cho thấy quyết tâm của Đảng sự đầu tư của Nhà nước cho nông nghiệp rất lớn nhưng nông nghiệp vẫn phát triển chưa cao. Sản lượng lương thực cả nước năm 1975:13 3 triệu tấn tương tự 1976:13 493; 1980:14 832... chỉ tiêu 21 triệu tấn lương thực chỉ đạt 2/3. Nhiều nơi lòng tin của nông dân vào Đảng giảm sút. Thực tiễn đã đặt ra một câu hỏi lớn mà chưa có lời giải.

Một đất nước với gần 80% nông dân nền nông nghiệp đang trong tình trạng lạc hậu thu nhập chính vẫn từ nông nghiệp mà bình quân lương thực năm 1980 của nông dân là 11 4 kg/người/tháng thì cuộc khủng hoảng kinh tế –xã hội ập đến như một lẽ tất nhiên... 

  


V

ới chiến thắng 30-4-1975 lịch sử Việt Nam bắt đầu sang trang mới: nhiệm vụ xây dựng phát triển kinh tế đã thay thế nhiệm vụ đấu tranh thống nhất đất nước. Việc thay thế này tất yếu phải quan tâm đến cơ chế quản lý. Lịch sử đã thử thách tư duy các nhà lãnh đạo và nhân dân ta. Hơn 30 năm nhìn lại càng thấy rõ hơn nếu không có tư duy đổi mới thì tình hình đất nước kinh tế – xã hội đã rơi vào bế tắc như thế nào.

1. Đại hội IV của Đảng (12-1976) đã đề ra những nhiệm vụ cơ bản phát triển nông nghiệp trong kế hoạch 5 năm (1976-1980) là tập trung cao độ lực lượng của cả nước của cTác ngành các cấp tạo ra một một bước phát triển vượt bậc về nông nghiệp nhằm giải quyết vững chắc nhu cầu về lương thực thực phẩm và có dự trữ cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp tăng nhanh nguồn hàng xuất khẩu đưa chăn nuôi lên thành một ngành sản xuất chính cân đối với trồng trọt. Chỉ tiêu đến năm 1980 nước ta đạt 21 triệu tấn lương thực; 16 5 triệu con lợn trên 1 triệu tấn cá. Miền Bắc làm tốt cuộc vận động tổ chức lại sản xuất và cải tiến quản lý trong nông nghiệp; miền Nam xoá bỏ triệt để quyền chiếm  hữu về ruộng đất của phong kiến củng cố nông hội phát triển các hình thức hợp tác lao động để chuẩn bị điều kiện cho công cuộc hợp tác hoá nông nghiệp.

  Trong quá trình thực hiện Nghị quyết Đại hội IV nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng lại phải đương đầu với hai cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc từ tháng 1 đến tháng 3-1979. Ở Tây Nguyên cuối năm 1976 đầu năm 1977 bọn Fulro được nước ngoài tiếp tay quấy phá trắng trợn. Nhắc lại bối cảnh lịch sử có phần ảnh hưởng đến công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế nước ta lúc ấy không hàm nghĩa thanh minh cho những quyết sách chưa thích hợp thời đó. Trước khi chiến tranh biên giới xảy ra tháng 7-1977 Hội nghị BCHTƯ Đảng đã ra Nghị quyết cụ thể hoá đường lối phát triển nông nghiệp của Đại hội IV. Trung ương đã xác định trong những năm tới trước mắt phải nắm vững nhiệm vụ hàng đầu là phát triển vượt bậc sản xuất nông nghiệp lâm nghiệp ngư nghiệp. Thực hiện Nghị quyết Trung ương cả nước dấy lên phong trào lao động sản xuất nhằm đạt 3 mục tiêu: bảo đảm lương thực và thực phẩm cho toàn xã hội; có lương thực dự trữ cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp và tăng nhanh hàng xuất khẩu. Ba mục tiêu này phản ánh đúng nguyện vọng của nhân dân lúc bấy giờ. Muốn thực hiện được mục tiêu này phải tiến hành củng cố HTX ở miền Bắc và cải tạo nông nghiệp ở miền Nam theo hướng XHCN. Đảng và Nhà nước đã lãnh đạo chỉ đạo thực hiện những quyết định trên. Tháng 8-1977 Ban bí thư và Hội đồng Chính phủ đã triệu tập Hội nghị bàn việc làm thử cải tạo XHCN đối với nông nghiệp miền Nam nhằm đưa nông nghiệp lên sản xuất lớn XHCN xoá bỏ bóc lột nghèo nàn và lạc hậu xây dựng cuộc sống mới ở nông thôn. Một số HTX được xây dựng thí điểm như ở Tuy Phước (Nghĩa Bình) Hương Thuỷ (Bình Trị Thiên) và Cai Lậy (Tiền Giang)... Mặc dù bộ máy quản lý đã được chuẩn bị trước (tuyển chọn từ một số HTX tiến tiến ở miền Bắc) và xây dựng HTX bậc cao quy mô toàn xã nhưng với cách làm mang tính áp đặt không xuất phát từ tất yếu kinh tế nên đại đa số nông dân không chấp nhận. Xã viên xin ra khỏi HTX ngày càng nhiều. HTX bậc cao không thành lại chuyển sang xây dựng HTX quy mô vừa (200-300ha) quy mô nhỏ và tập đoàn sản xuất nhưng hiệu quả vẫn rất thấp. Đến cuối năm 1979 các tỉnh ven biển miền Trung đã hoàn thành căn bản hợp tác hoá nông nghiệp đưa 83% số hộ nông dân với 76% diện tích ruộng đất vào làm ăn HTX tương tự Tây Nguyên là  74% và 66% Nam Bộ là 8% và 6%1.

Đó là những dấu hiệu cho thấy phản ứng của thực tiễn mà nguyên nhân chủ yếu nằm trong mô hình HTX chứ không phải vì vi phạm các nguyên tắc hay chưa tính kỹ tính đặc thù của vùng miền. Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ lực lượng sản xuất đã “lên tiếng”. Vấn đề sẽ rõ ràng hơn khi ta quay lại miền Bắc nơi có phong trào HTX từ những năm 1960 đã góp phần to lớn trong cuộc cách mạng dân tộc dân chủ. Cuộc chiến tranh đã phần nào che lấp những khuyết tật của HTX theo phong trào “đánh trống ghi tên” ... Đây là thời điểm mà nhiệm vụ đánh Mỹ được đặt lên hàng đầu với khẩu hiểu thấm sâu trong từng người Việt Nam: “Tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”.  Chiến tranh đã kết thúc việc viện trợ của các nước lúc này là có hạn và hết dần. Bản thân các nước XHCN anh em đều có những khó khăn riêng họ cũng đang rơi dần vào khủng hoảng. Nhiệm vụ phát triển kinh tế của từng người từng nhà và quốc gia trở nên cấp thiết.

Nhiệm vụ này khi thực hiện sẽ va chạm ngay vào cơ chế bao cấp - cơ chế do kéo dài đã trở nên không thể thích ứng. Cuộc vận động tổ chức lại sản xuất tăng cường xây dựng cấp huyện mà chủ yếu là xây dựng cơ cấu kinh tế công-nông nghiệp trên địa bàn huyện được tiến hành. Nhà nước đã đầu tư lớn vào một số nơi làm xuất hiện những điển hình tiên tiến như HTX Định Công Vũ Thắng Thăng Long... Sự phát triển toàn diện của các HTX này không nói lên được gì nhiều; và mô hình HTX ở các nơi này không thể áp dụng phát triển ở nơi khác. Vấn đề đặt ra là HTX sẽ phát triển trong môi trường thích hợp tuân thủ quy luật khách quan và nó tự lớn lên trong quá trình xã hội hóa sản xuất chứ không phải chỉ đầu tư thiếu hạch toán từ bên ngoài. Thời kỳ này HTX là một tổ chức kinh tế càng bậc cao thì cán bộ càng bất cập lợi ích người lao động càng hạn chế...

Thực tiễn cuối những năm 1970 cho thấy quyết tâm của Đảng sự đầu tư của Nhà nước cho nông nghiệp rất lớn nhưng nông nghiệp vẫn phát triển chưa cao. Sản lượng lương thực cả nước năm 1975:13 3 triệu tấn tương tự 1976:13 493; 1980:14 832... chỉ tiêu 21 triệu tấn lương thực chỉ đạt 2/3. Nhiều nơi lòng tin của nông dân vào Đảng giảm sút. Thực tiễn đã đặt ra một câu hỏi lớn mà chưa có lời giải.

2. Một đất nước với gần 80% nông dân nền nông nghiệp đang trong tình trạng lạc hậu thu nhập chính vẫn từ nông nghiệp mà bình quân lương thực năm 1980 của nông dân là 11 4 kg/người/tháng thì cuộc khủng hoảng kinh tế –xã hội ập đến như một lẽ tất nhiên.

 Trong hoàn cảnh những năm cuối thập kỷ 70 của thế kỷ XX người nông dân không thể trông cậy nhiều vào sản xuất nông nghiệp họ quay ra làm đủ nghề để bươn chải kiếm sống. Một trong những hướng tưởng thoát ra được là đi buôn. Trên thực tế một số người đi buôn thời đó được dư luận coi là năng động có đời sống khá hơn. Nhưng xét toàn xã hội thì đó cũng chẳng phải là con đường giải thoát. Người nông dân tập trung cho mảnh đất 5% được chia và bất ngờ nó đã mang lại khoảng 80% thu nhập. 95% đất HTX lại chỉ mang lại 20-30% thu nhập. Thực tiễn cung cấp tiếp cho ta dữ liệu để trả lời câu hỏi tại sao HTX lại không phát triển được?

Với quan niệm cứng nhắc sản xuất quyết định sự phát triển để ngăn chặn nạn đi buôn tự phát Nhà nước đã đặt các trạm kiểm soát. Sản xuất bị tắc nghẽn từ trong quá trình sản xuất đến lưu thông phân phối. Trí thông minh của người sản xuất đã được huy động để vượt qua những chia cắt do các trạm kiểm soát dựng nên. Tình cảnh “ngăn sông cấm chợ” cũng không ngăn cản được nạn buôn lậu và cũng không hướng nông dân chuyên tâm vào sản xuất. Một nền sản xuất trong môi trường của cơ chế bao cấp không được khuyến khích giá bán cho Nhà nước rất thấp (bằng 1/10 giá thị trường). Nhà nước thu mua giá rẻ nhưng cũng không có sản phẩm mà mua. Nhà nước phân phối hàng hoá cho từng hộ dân. Hàng phân phối này phụ thuộc vào việc thu mua lượng hàng ngày càng giảm. Phân phối theo tem phiếu phát sinh nhiều tiêu cực như “mua cửa sau” hay tem phiếu đem bán đổi lậu. Việc mua nông sản xuất khẩu thường chỉ đạt không quá 20% giá trị hợp đồng. Tỷ lệ huy động lương thực nông sản thực phẩm đạt hơn 10%. Trong khi thị trường có tổ chức thu hẹp dần thì thị trường tự do càng mở rộng. Một số lượng lớn hàng hoá nhà nước tuôn ra thị trường tự do. Việc mua đi bán lại trở nên phổ biến. Giá cả hàng hoá trên thị trường tự do liên tục tăng năm 1979 là 334% (so năm 1976). Giá chỉ đạo của Nhà nước có khoảng cách xa với giá trị hàng hoá trên thị trường. Người nông dân không thiết tha với đồng ruộng họ nhận thấy càng sản xuất nhiều càng lỗ lớn. Lúa chín mía đến vụ có nơi không thu hoạch.

3. Thực tiễn của những năm 1976-1979 trong nông nghiệp Việt Nam là như vậy “cuộc chiến” giữa cơ chế bao cấp và sự phát triển của nông nghiệp đã âm thầm diễn ra mà ta thấy rõ nét nhất ở hậu quả tất yếu của nó cuộc khủng hoảng kinh tế – xã hội.

Trong điều kiện lịch sử đó đáp ứng yêu cầu đời sống nông dân Việt Nam đã vươn lên cố sáng tạo tìm tòi đường đi mới cứu vãn tình thế  trước hết cho mình và thoát khỏi tình trạng bế tắc trong sản xuất. Cũng cần lưu ý rằng quá trình sáng tạo của nông dân đã được sự chấp thuận của cấp uỷ ở một số địa phương. Để đảm bảo lợi ích nông dân tập thể và Nhà nước nhiều nơi đã tìm mọi cách loại bỏ thị trường tự do nhưng cả lý thuyết và thực tiễn thị trường có tổ chức phụ thuộc vào thị trường tự do. Người nông dân tập trung cho sản xuất để đáp ứng nhu cầu đời sống là một lẽ không thể cơ chế nào dám bác bỏ. Ở Đoàn Xá (Hải Phòng) Thổ Tang (Vĩnh Phú) Yên Thành (Nghệ An) đã tổ chức khoán mức độ khác nhau nhưng cùng mang lại kết quả: sản lượng lương thực đều tăng đời sống nông dân được cải thiện. Đây là một thực tiễn buộc người bảo thủ nhất cũng phải suy nghĩ và ít nhiều thức tỉnh mặc dù con đường do thực tiễn chỉ ra chưa thật rõ nét.

Sức mạnh của một chính đảng là biết vượt qua khuôn sáo hướng về thực tiễn tiếp nhận những nhân tố hợp lý để phát triển đất nước đặc biệt trong những lúc khó khăn nhất. Thực tiễn kinh tế nông nghiệp - nông thôn đã gợi ý phải xoá bỏ cơ chế quản lý bao cấp mới có khả năng tìm được lối thoát cho kinh tế - xã hội mà trước hết là trong nông nghiệp nông thôn nông dân. Sự phát triển của nông nghiệp thông qua “khoán chui” thành một tâm điểm thu hút sự chú ý của dư luận xã hội và các nhà lãnh đạo. Phong trào “xé rào” dâng lên mãnh liệt trong tất cả các ngành các lĩnh vực trở thành hậu phương cho những người có tư duy đổi mới. Vấn đề đặt ra lúc này chưa phải là cơ chế thị trường mà là giải phóng những ách tắc bất hợp lý của cơ chế quan liêu bao cấp. Cơ chế thị trường còn phải có thời gian rũ bỏ những nhận thức duy ý chí và kinh viện ngấm sâu trong một số lớn cán bộ đảng viên và nhân dân nữa. Mặt khác phải dò dẫm phát triển những mầm mống lý luận từ thực tiễn để dẫn đường.

Vấn đề phân phối lưu thông nóng bỏng hơn lúc nào hết. Người nông dân chỉ được giữ 60% sản phẩm còn 40% bán cho Nhà nước với giá thấp - Chính sách này đã làm cho sản xuất nông nghiệp mất hoàn toàn động lực. Giá thoả thuận là một sáng kiến mang tính thực tiễn cao và đã được áp dụng. Với hình thức này người nông dân phấn khởi sản xuất hơn trước.

Bám sát sự vận động của thực tiễn lắng nghe nguyện vọng của nông dân một con đường mới đã manh nha. NQTƯ 6 (Khoá IV) thể hiện điều đó. Nghị quyết đã đánh giá những chủ trương mang tính chủ quan nóng vội và áp đặt thiếu căn cứ trong chỉ đạo phát triển nông nghiệp. Để phát triển nông nghiệp cứu vãn tình hình đáp ứng thực tiễn NQTƯ 6 đã chủ trương thừa nhận sự tồn tại của nền kinh tế nhiều thành phần và đề ra các chính sách: cho các hộ xã viên mượn đất để sản xuất nhằm khắc phục tình trạng bỏ hoang ổn định mức bán nghĩa vụ lương thực trong 5 năm phần còn lại bán cho Nhà nước theo giá thoả thuận và người nông dân được tư do lưu thông bán nơi nào theo ý họ. Biểu thuế nông nghiệp của Nhà nước được sửa lại nhằm khuyến khích thâm canh tăng vụ mở rộng diện tích nghiêm cấm các địa phương tự đặt các thứ thuế. Khuyến khích kinh tế hộ gia đình thay đổi cách ăn chia phân phối trong nội bộ HTX giá lương thực và thực phẩm được sửa đổi hợp lý hơn đảm bảo nguyên tắc phân phối theo lao động bỏ lối phân phối theo định xuất hạn chế mức trích lập quỹ tập thể nhằm tăng phần thu nhập cho xã viên củng cố các HTX ở miền Nam cải tạo nông nghiệp phải tuân thủ ba nguyên tắc: tự nguyện cùng có lợi và quản lý dân chủ.

NQTƯ 6 (Khóa IV) chủ trương chấp nhận ở mức độ bổ sung quan hệ hàng hoá - tiền tệ cho hệ thống kế hoạch hoá tập trung. Thực tiễn đã diễn ra xu hướng phát triển các quan hệ hàng hoá - tiền tệ như một tất yếu khách quan. Đời sống kinh tế và nông nghiệp nhờ đó mà bắt đầu khởi động. Tuy chưa nói tới mà chưa thể nói tới một nền sản xuất hàng hoá hướng tới thị trường các chủ trương trên đã tạo ra những điều kiện căn bản để nông dân hướng tới nền sản xuất mang lại lợi ích cao hơn cho người sản xuất. Phong trào “xé rào” dâng lên mãnh liệt hơn trước do NQTƯ 6 tiên phong “cởi trói” khắc phục ách tắc trong sản xuất lưu thông nhưng cũng tạo những tiền đề quan trọng tác động từng bước trong tư duy và thực tiễn kinh tế. Nhờ đó mà nông nghiệp có nhịp độ mới trong sản xuất nông dân bị thu hút và tập trung sản xuất. Nếu như năm 1974 hội nghị nông nghiệp ở Thái Bình cho biết cứ 10 năm ở miền Bắc diện tích đất sản xuất bỏ hoang tương đương một tỉnh thì giờ đây nông dân đã tự tìm đến khai hoang phục hoá thùng đào thùng đấu được khai thác làm đất sản xuất. Diện tích canh tác được tăng lên và năng suất lao động cũng tăng lên chính nhờ lợi ích kinh tế thiết thân của nông dân được kích thích. V.I.Lênin đã từng nói chừng nào người tiểu nông còn là tiểu nông thì họ cần được kích thích bằng lợi ích kinh tế.

Những tư tưởng tuy còn manh nha NQTƯ 6 đã cắm mốc đổi mới đầu tiên mặc dù chưa động chạm cơ bản đến cơ chế bao cấp. Dù vậy vẫn là lá cờ chỉ đạo tập hợp nông dân và các cấp uỷ Đảng mạnh dạn sáng tạo làm thử khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động. Ở HTX Xuân Thành (Yên Thành Nghệ Tĩnh) năng suất đạt cao hơn mức khoán của HTX (mức khoán 1 8 tấn; đạt 2 2 tấn). Chế độ khoán ở nhiều nơi đi từ thấp đến cao từ bộ phận đến tổng thể và diện mạo khoán sản phẩm cuối cùng tới nhóm và người lao động trong các HTX rõ dần. Như vậy con đường để đạt mục tiêu đảm bảo lương thực thực phẩm đã xuất hiện. Tuy nhiên khi khoán sản phẩm đến người lao động thì mối quan hệ giữa HTX ban quản lý và xã viên lại tiếp tục đặt ra nhiều vấn đề mới. Tư tưởng củng cố HTX cải tiến công tác quản lý nông nghiệp vẫn được nhấn mạnh nhưng HTX tiên tiến trong giai đoạn này đạt chỉ 30% còn yếu kém chiếm 70%. Thực tiễn này cho thấy quy luật khách quan đang nhắc nhở con người điều gì. Cơ chế quản lý bao cấp không thể kết hợp được một cách cần thiết 3 lợi ích kinh tế đặc biệt chưa quan tâm lợi ích người lao động2. Một nền nông nghiệp phụ thuộc phần lớn vào thiên nhiên ở một đất nước nhiều thiên tai mà cơ chế cực kỳ cứng nhắc không thể điều chỉnh uyển chuyển được. Nhưng dù sao khoán sản phẩm đã được nông dân đón nhận tạo nên một thực tiễn mới không dễ gì phủ nhận được. Đó là con đường được nông dân đón nhận như một “cứu cánh”. Năng suất lao động tăng lên có nơi đến 30% so với mức khoán. Cấp uỷ nhiều địa phương đều có nghị quyết xem xét “khoán chui” và điều chỉnh quy mô HTX tăng cường trình độ quản lý của cán bộ và tiếp tục khoán với hai hình thức.

Ở giai đoạn này cơ chế quản lý quan liêu bao cấp vẫn ngự trị. Thực tiễn kinh tế xuất hiện những hiện tượng chưa bao giờ có và do đó có nhiều quan điểm khác nhau thậm chí là ngược nhau xuất hiện. Mặc dù cả hai đều trung thành với con đường xây dựng CNXH ở Việt Nam nhưng nếu khư khư lối làm ăn cũ cơ chế quản lý cũ thì dân đói nước nghèo. Nhưng làm ăn theo khoán sản phẩm đến người lao động liệu quan hệ sản xuất XHCN có giữ được không? CNTB có tự phát mọc lên? Cuộc đấu tranh tư tưởng ở giai đoạn bình minh đổi mới này có ý nghĩa cực kỳ to lớn đến vận mệnh đất nước. May thay những tư tưởng đổi mới đã thắng. Cuộc chiến đó vẫn còn tiếp tục ngay cả sau này khi “khoán chui” đã được thừa nhận trong Chị thị 100 của Ban bí thư Trung ương Đảng tháng 1 - 1981 về cải tiến công tác khoán mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong HTX nông nghiệp. Nhiều HTX đã áp dụng hình thức khoán sản phẩm có kết quả tốt nhưng chưa có chỉ đạo và hướng dẫn thống nhất nên một số HTX mắc phải những lệch lạc. Mục đích của khoán là bảo đảm phát triển sản xuất củng cố tăng cường quan hệ sản xuất XHCN ở nông thôn không ngừng nâng cao thu nhập và đời sống của xã viên tăng tích luỹ của HTX và làm tròn nghĩa vụ với Nhà nước. Để đạt mục đích đó HTX phải sử dụng tốt tư liệu sản xuất phải nắm được sản phẩm để phân phối kết hợp được ba lợi ích khuyến khích mạnh mẽ lợi ích chính đáng của người lao động làm cho mọi người thực sự gắn bó với sản phẩm cuối cùng. Phương pháp hoàn chỉnh chế độ 3 khoán là chế độ thưởng phạt công minh đối với xã viên xác định mức khoán hợp lý và ngăn ngừa tình trạng “khoán trắng”.

Thực tiễn được nông dân và cấp uỷ một số địa phương sáng tạo ra hình thức khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động được Trung ương thừa nhận bổ sung nâng lên thành chủ trương chung của Đảng. Tư tưởng mới bước đầu đã chiến thắng. Với Chỉ thị 100 người nông dân được tự chủ ba khâu trong quá trình sản xuất nông nghiệp: gieo mạ cấy trồng chăm bón và thu hoạch. HTX nông nghiệp đảm nhận 5 khâu: làm đất thuỷ lợi bảo vệ thực vật giống và phân hoá học. Quyền chi phối quá trình tái sản xuất vẫn thuộc về ban quản lý HTX. So với thời kỳ 1976-1980 năng suất lao động đã tăng 23 8% sản lượng lương thực tăng 27%. Bình quân lương thực đầu người năm sau tăng hơn năm trước: 1981: 273kg; 1985: 304kg3.

Tuy nhiên Chỉ thị 100 còn nhiều hạn chế do cơ chế tập trung quan liêu bao cấp chưa được tháo gỡ cơ chế quản lý nội bộ HTX và nhất là vai trò kinh tế hộ gia đình chưa được xác lập đúng. Việc kéo dài bộ máy quản lý cồng kềnh mức khoán không ổn định đã triệt tiêu dần động lực kinh tế vừa được khơi dậy. Kết quả là sản xuất nông nghiệp và HTX lại đứng trước nguy cơ mới sản lượng lương thực năm 1987 giảm gần 1 triệu tấn mức Nhà nước huy động giảm gần 40 vạn tấn nạn đói xảy ra ở một số vùng liền trong 2 năm 1987 – 19884.

Từ một nước nông nghiệp lạc hậu đi lên sản xuất hàng hoá Đảng ta đã nhận thức đúng về đời sống của nhân dân không thể dựa vào bên ngoài. Hơn nữa có phát triển kinh tế nông nghiệp mới tạo cơ sở cho nền kinh tế phát triển ổn định xã hội đảm bảo nền độc lập và tự chủ. Không có sự phát triển toàn diện của nông nghiệp thì không có sự ổn định và bước tiến của toàn bộ nền kinh tế. Nhận thức được vai trò to lớn của nông nghiệp tiếp nhận những gợi ý từ thực tiễn Đảng và Nhà nước ta đã xem xét kỹ hai vấn đề cơ bản lúc bấy giờ đang đặt ra để đẩy mạnh nông nghiệp phát triển. Một là phải đảm bảo lợi ích kinh tế nông dân thì sản xuất nông nghiệp mới có động lực; Hai là vai trò kinh tế hộ gia đình cũng như mối quan hệ giữa kinh tế hộ và HTX phải được xác lập đúng.

Thực tiễn nền kinh tế nước ta đòi hỏi phải được giải phóng khỏi cơ chế bao cấp HNTƯ 8 (Khoá V) đã đột phá dứt khoát xoá bỏ cơ chế bao cấp. Nghị quyết Đại hội VI (1986) là bước ngoặt có tính lịch sử: đổi mới toàn diện đất nước. Trên nền tảng vững chắc này vừa đáp ứng yêu cầu thực tế và khắc phục những hạn chế của Chỉ thị 100 tháng 4-1988 Bộ chính trị đã ra Nghị quyết 10 và sau đó là NQTƯ 6 (Khoá VI) với những chủ trương đúng đắn kịp thời. Nội dung chủ yếu nhằm giải phóng sức sản xuất chuyển nền nông nghiệp đang trình độ tự cung tự cấp lên sản xuất hàng hoá với nhiều thành phần kinh tế. Thực hiện điều chỉnh một bước về quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất giao khoán ổn định lâu dài ruộng đất đến hộ gia đình nông dân hoá giá các tư liệu sản xuất khác và cơ sở vật chất kinh tế của HTX trước đây mà tập thể quản lý kém hiệu quả. Khuyến khích mua sắm công cụ sản xuất và trâu bò cày kéo đặc biệt đã khẳng định vai trò tự chủ của kinh tế hộ gia đình. Thực hiện cơ chế phân phối theo lao động xoá bỏ chế độ theo công điểm và hiện vật. Xã viên chỉ còn một nghĩa vụ là nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ hợp đồng sản phẩm còn lại được lưu thông tự do và bán nơi có lợi nhất. Thực hiện chủ trương thương mại hoá vật tư khuyến khích sản xuất và làm giàu chính đáng. Ngoài ra còn thừa nhận sự tồn tại và khuyến khích phát triển kinh tế cá thể kinh tế tư nhân được nhà nước bảo hộ quyền lợi chính đáng và bình đẳng trước pháp luật.

Nhờ đó người nông dân đã gắn bó với ruộng đồng đã đầu tư công sức kỹ thuật và trí tuệ vào ruộng khoán. Nếu như Khoán 100 mang lại cái sôi nổi ban đầu của động lực kinh tế thì Khoán 10 đã khẳng định được động lực. Thu nhập bình quân hàng năm của nông dân từ 1987  về trước là 1 18% đến năm 1988 - 1989 là 4 5%. Hộ nông dân có thu nhập thấp dưới 20 kg gạo/tháng những năm 1976-1980 chiếm 20% đến năm 1989 đã giảm xuống 9 44%. Hộ có bình quân đầu người/tháng đạt 41 kg gạo trở lên từ 21 3% năm 1987 đã tăng lên 44 9% năm 1989. Sản lượng lương thực đã tăng lên theo từng năm (1988:19 583 triệu tấn; 1989: 21 439 triệu tấn và 1993: 24 5 triệu tấn)5. Nhờ đó nước ta giải quyết được vấn đề đủ lương thực trong nước có dự trữ và xuất khẩu hàng năm 1 5 đến 2 triệu tấn gạo trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ 3 trên thế giới.

Việc sử dụng và khai thác ruộng đất từ khi có Nghị quyết 10 đã được nông dân coi trọng. Đất canh tác chẳng những được bảo vệ mà còn sử dụng tiết kiệm. Đất hoang hoá bãi bồi thung đào... được sử dụng triệt để. Kết quả điều tra cho thấy trong vòng 3 năm (1988-1990) diện tích gieo trồng đã tăng 3 9%. Diện tích khai hoang được 257.000ha6.

Nông dân làm chủ quá trình sản xuất nông nghiệp do được quyền sử dụng lâu dài ruộng đất được chuyển nhượng thừa kế cho thuê và chuyển đổi quyền sử dụng cùng với việc thừa nhận kinh tế hộ gia đình. Động lực kinh tế mang tính chất trực tiếp do lợi ích kinh tế nông dân được thực hiện thông qua kinh tế hàng hoá khi họ chính là chủ thể sản xuất kinh doanh. Nhờ đó sức sản xuất trong nông nghiệp được giải phóng. Khai thác được những tiềm năng đất đai lao động và vốn của nông dân sản xuất nông nghiệp đã hướng ra thị trường. Sự ổn định và phát triển của sản xuất nông nghiệp đã tạo tiền đề cho sự ổn định và phát triển của toàn bộ nền kinh tế.

Cơ cấu lao động nông nghiệp vẫn chiếm tỷ lệ cao từ 70-80%. Tuy nông nghiệp đổi mới có nhiều thành tựu song cơ cấu kinh tế nông nghiệp chuyển dịch chậm tiềm năng nông nghiệp chưa khai thác còn lớn. Nguyên nhân do yếu kém của cơ sở vật chất và kết cấu hạ tầng cũng như thị trường nông thôn còn chưa phát triển. Giao lưu kinh tế vẫn còn ách tắc. Đặc biệt giá nông sản quá hạ và bất ổn làm giảm lợi ích kinh tế nông dân gây hậu quả xấu đối với sản xuất.

Thời kỳ này để nông nghiệp tiếp tục phát triển làm cơ sở phát triển toàn bộ nền kinh tế cần phải đặt sự phát triển của nông nghiệp nông thôn theo sản xuất hàng hoá hướng tới quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá. Đó phải là nhiệm vụ chiến lược cho những năm tiếp theo. Thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần gắn sản xuất với thị trường. Mở rộng thị trường trong và ngoài nước giải quyết đầu vào và đầu ra để nông dân yên tâm với nhiệm vụ sản xuất. Thực tế đã chứng minh ở địa phương nào giải quyết được thị trường tiêu thụ hàng hoá nông sản và dịch vụ đầu vào thì ở đó nông nghiệp phát triển và thu nhập của nông dân đạt kết quả cao.

Thực tế còn cho thấy muốn phát triển sản xuất nông nghiệp cần gắn liền phát triển kinh tế với văn hoá xã hội. Hiện tượng học sinh nông thôn bỏ học khá phổ biến ở giai đoạn này và tình trạng phân hoá giàu nghèo cũng xảy ra mạnh mẽ. Tỷ lệ giàu nghèo trong cơ chế bao cấp chỉ 1 5 đến 2 lần. Tỷ lệ đó giai đoạn này là 40 đến 100 lần. Mặc dù số hộ nghèo đói đã được giảm xuống năm 1990 có 34 4 đến năm 1992 chỉ còn 19 6%. Tuy vậy giải quyết hộ nghèo đói đang là vấn đề cấp bách đặt ra cho các địa phương. Để vực hộ nghèo đói đứng dậy cần:

Một là giải quyết vốn sản xuất. Muốn vậy chính sách tín dụng nông nghiệp cho nông dân vay vốn cần phát triển mạnh để đáp ứng cho hơn 50% số hộ nông dân vay.

Hai là giúp đỡ bồi dưỡng hộ nghèo đói biết làm giàu trên cả hai phương diện: kinh tế kỹ thuật và kinh tế xã hội. Muốn vậy cần phát triển các tổ chức khuyến nông (như tỉnh An Giang trong những năm vừa qua đã thành công trong việc sử dụng tổ chức này).

Ba là phát triển mạnh ngành nghề phi nông nghiệp như công nghiệp chế biến công nghiệp nông thôn thủ công truyền thống sửa chữa nhỏ... phát triển ngành nghề sẽ mang đến 3 điều lợi sau đây: Thứ nhất giải quyết dần số lao động dư thừa. Thứ hai giá trị sản xuất hàng hoá tăng thêm nguồn thu nhập cho nông dân. Thứ ba dắt dẫn nông dân thông qua nền sản xuất hàng hoá để tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Quá trình tìm tòi thử nghiệm trong nông nghiệp Việt Nam đã kết thúc năm 1988: cùng với toàn bộ nền kinh tế nông nghiệp Việt Nam đã phát triển theo con đường kinh tế hàng hoá kinh tế thị trường. Con đường đó đã mang lại sự đổi mới toàn diện của nông nghiệp nông thôn nông dân Việt Nam. Trong quá trình phát triển này tính hai mặt của cơ chế thị trường vẫn luôn luôn tác động vào nông nghiệp một mặt nông nghiệp đã làm được cơ sở để phát triển toàn bộ nền kinh tế mặt khác cũng đang đặt ra nhiều vấn đề nóng bỏng và bức xúc. Lịch sử phát triển nông nghiệp Việt Nam trong 20 năm đổi mới là tiếp tục quá trình tìm tòi sáng tạo để phát triển phù hợp với kinh tế thị trường trong điều kiện toàn cầu hoá kinh tế và chủ động hội nhập của nước ta. Do đó nghiên cứu lại quá trình tìm tòi thử nghiệm để phát triển nông nghiệp vẫn có giá trị thực tiễn trên con đường phát triển hiện nay và tương lai.


1. Xem: Lịch sử phong trào nông dân và hội nông dân Việt Nam (1930-1995) CTQG H 1998 chương 6

2. Xem thêm Phùng Gia Lộc: “Cái đêm hôm ấy đêm gì?”. Báo Văn nghệ thứ 7 ngày 23-1-1985 “mất mùa màng lợi ích thứ 3 của người lao động phải hi sinh cho lợi ích của nhà nước”. Lời của 1 đồng chí lãnh đạo cấp tỉnh nói 1983.

3 4. Báo cáo tổng kết HTX nông nghiệp 1958-1990 định hướng HTX nông nghiệp thời kỳ sau 1990. Ban Nông nghiệp TƯ tháng 9-1990 tr.22 22

5. Kinh tế xã hội nông thôn Việt Nam ngày nay NXB tư tưởng văn hoá H 1991 tr. 11 và báo Nhân dân 9-12-1993

6. Cuộc điều tra xã hội học ở Hải Dương năm 1990 cho thấy 97 4% nông dân được hỏi muốn giữ nguyên hoặc được nhận ruộng khoán. Trong đó muốn giữ nguyên là 52 3% muốn nhận thêm là 45 03%. Theo Kinh tế xã hội nông thôn -  chính sách ST H 1991 tr.46.

vc

chào em Nguyễn Quốc Triều

Cảm ơn em đã đọc . Bài viết này công phu quan trọng hơn nhờ có pp mà thầy sang địa hạt lịch sử được. Chúc em học tốt

Nguyễn Quốc Triều

chào thầy ạ

Rất tiếc là đến bây giờ em mới được đọc bài viết này của thầy nhưng rất may vì em đã được đọc. Cảm ơn thầy vì đó là những tư liệu lich sử chân thực và quý báu cho những người học tập lịch sử Đảng như em. Hôm nay là buổi học cuối của môn Khoa học luận mà thầy dạy bọn em. Thế là bọn em không được nghe thầy đọc thơ và kể chuyện chiến đấu nữa. Tiếc thầy nhỉ mai thầy đi công tác em chúc thầy gặp nhiều may mắn và thú vị. Cảm ơn thầy giáo Vương Cưòng nhiều!

vc

chào em

Tôi chỉ trung thực với lịch sử viết về xưa có cái khó riêng.Nhưng một khi đã nắm được logic thì cứ thế mà viết.Cũng cần cái dũng nữa.Có một vài tờ t/c ngần ngại nhưng rồi họ cũng in.Có sao đâu người đọc bây giờ không dễ dãi chút nào.Tôi viết như lịch sử đã đi qua.Cảm ơn em viết loại này ít người đọc chỉ có ai cần nhu cầu tìm hiểu tham khảo trong ngiên cứu mà thôi.Cảm ơn lời động viên của em.Chúc em hoàn thành luận án đung tiến độ.

Trần văn thuận

Chào Thầy

Em đọc bài này thấy chuẩn mực về phương pháp tiếp cận trung thực với lịch sử công bằng trong đánh giá lập luận vững chắc thuyết phục lắm thầy ạ. Với em đây là một mẫu mực về bài nghiên cứu...Em học tập được rất nhiều.Cảm ơn Thầy!