Asin không phải là vị tướng ... - VC

Asin không phải là vị tướng của mọi cuộc chiến tranh
VƯƠNG CƯỜNG

2.  
Ở giai đoạn sau chiến tranh và trước đổi mới (1975-1986) xin mượn câu thơ của nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo:
Thời tôi sống có bao nhiêu câu hỏi
Câu trả lời thực chẳng dễ dàng chi
Thật ra thời nào cũng vậy trong quá trình vận động và  phát triển cuộc sống luôn đặt ra các câu hỏi. Nếu cuộc sống đặt ra các câu hỏi thì chính nó lại tạo ra các tiền đề để trả lời các câu hỏi đó.
     
Lịch sử cũng chứng kiến không phải bao giờ con người cũng trả lời đúng các câu hỏi không lời đó. Thơ cũng tham gia trả lời bằng cách của thơ. Muốn thế người và thơ phải hướng về thực tiễn từ thực tiễn buồn vui đau khổ và hạnh phúc của con người cái mới thường ẩn mình trong những câu hỏi từ thực tiễn. Thơ vẫn có khả năng óng ả bay lên trên thực tiễn hoang tàn.
     
Thật không may giai đoạn này con người chưa trả lời được các câu hỏi hoặc có trả lời nhưng chưa đầy đủ. Chiến tranh đã trở thành quá khứ khi lá cờ tổ quốc được kéo lên trên nóc dinh Độc lập 11g30 ngày 30-4-1975. Những người lính lần lượt trở về và mãi mãi không về. Đất nước trong nụ cười có nước mắt. Khi ấy cuộc sống đã âm thầm chuyển sang giai đoạn khác nhiệm vụ phát triển kinh tế đã bước lên hàng đầu thay thế cho nhiệm vụ giải phóng dân tộc.
     
Tôi ấn tượng với chi tiết người cắm cờ trên nóc dinh Độc Lập. Cũng như bao người chiến thắng khác ông chưa hề nhìn thấy thang máy. Do không hiểu quy trình nên ông sợ người dẫn đường hại mình nên ngăn lại khi người này bấm nút. Không hiểu sao câu chuyện này cứ ám ảnh mãi trong tôi. Có gì như dự báo một thời đại mới đang đến nhưng những người chiến thắng có thể chưa đủ kiến thức để hành động trong phát triển thời bình.  
     
Thơ cũng đang âm thầm đòi hỏi nhà thơ chuyển hướng vì cuộc sống đã chuyển hướng. Tiếng kèn tiếng trống tiếng chát chúa của chiến trường và lòng dũng cảm vượt lên trong bom rơi đạn lạc đã thành quá khứ. Người người mê man trong các bài hát bay lên tận chín tầng trời mà ít nhắc nhở đất dưới chân đang nung đỏ vì những bước chân chạy tìm cái ăn.
     
Môi trường không còn chiến tranh những chính sách chủ trương mới lại không chưa thoát ra khỏi hết thời chiến. Người ta cứ tưởng mọi việc ở miền Bắc đã là hình mẫu. Ai ngờ những chủ trương đó tuy đã có những thành tựu của thời chiến tranh lại bị thoái thác ở miền Nam. Đất nước bị tàn phá sự mất mát quá lớn chưa được chia sẻ giờ lại rơi vào khủng hoảng. Nhà nước chẳng những chưa trả lời được câu hỏi do cuộc sống đặt ra mà còn có khi đi ngược với nó. Nông dân điêu đứng nhất thu nhập bình quân mỗi người một tháng là 11 4kg thóc và chính họ trước sự mất còn của mình đã tìm cách thoát hiểm: khoán chui! Xã hội vận động trong nghèo nàn và loạng choạng về phương hướng. Nền sản xuất xã hội bị rối loạn. Các nước không còn viện trợ giúp VN được nữa đơn giản chiến tranh đã kết thúc và chính họ cũng đang rơi dần vào khủng hoảng kinh tế - xã hội nặng nề như Việt Nam.
     
Sông hồng chảy về đâu và lịch sử? câu thơ Chế Lan Viên một lần nữa lại vang lên trong điều kiện mới.  Nhiều tỉnh bắt đầu lắng nghe thực tiễn và tự cứu lấy mình trước khi trời cứu. Long An An Giang thành phố Hồ Chí Minh...và nhiều địa phương khác cũng nóng lên. Những cuộc họp với tiếng đập bàn nảy lửa ở văn phòng nhiều tỉnh thành phố. Khi thực tiễn đã báo hiệu dù còn yếu ớt có người mang trong mình quá nhiều công thức cũ dị ứng với sự chuyển mình mò mẫm đã phát biểu khi vừa xuống sân bay Tân Sơn Nhất: ngửi thấy mùi Nam Tư mùi tư bản!  Bên cạnh ta người Trung Quốc đã thấm hết cái đau của sự kém cỏi trong tư duy đã vùng dậy nhận ra thời đại đã khác: mèo trắng cũng được mèo đen cũng được miễn là bắt được chuột! Câu nói đó phải mất hàng thập kỷ sau người VN mới thấy hết ý nghĩa của nó. Kéo dài những giải pháp phù hợp với thời chiến lại không hợp với thời bình. Kéo dài cái tốt lại là cái xâu kéo dài ưu điểm lại là khuyết điểm điều này hoàn toàn chính xác đối với nước ta sau chiến tranh. 
     
Trong hoàn cảnh đó có người đã nói nhiều đến đời sống như mơ ông nhắc đến tương lai ti vi tủ lạnh xe máy...trong khi dân chúng chạy ăn từng bữa. Trong bối cảnh đó thơ VN như thế nào? Kỳ lạ là khi đại bác gầm thì họa mi lại hót rất hay khi im tiếng đại bác thì họa mi mất tiếng! Nếu nông dân đang loay hoay tìm đường để sống thì thơ đã dóng lên một tiếng kèn thức tỉnh tạo nên sự cộng hưởng với thực tiễn. Tôi cũng đồng ý với nhiều người ở giai đoạn này thơ ít hay ít có những tác giả mới xuất hiện lấy được sự cảm thông của bạn đọc. Nhưng chính giai đoạn này lại có những bài thơ được người đọc tìm kiếm và họ tìm thấy sự chia sẻ tìm thấy những dự báo đổi mới. Thậm chí có người còn cho rằng những bài thơ này còn đi trước đổi mới. Năm 1979 trên báo Văn Nghệ xuất hiện bài thơ Với con của Thạch Quỳ. Năm 1981 xuất hiện bài thơ Tản mạn thời tôi sống của nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo. (Năm 1988 bài thơ Nhìn từ xa tổ quốc của Nguyễn Duy được lan truyền).
     
Phải nói trước rằng những bài thơ này không mới về hình thức thể hiện nó cũng như thơ Việt Nam sau thơ mới. Vậy tại sao hai bài thơ này lại được người đọc tìm kiếm chia sẻ và nhiều người đã thuộc? Sức hút của bài thơ chính từ nội dung của nó với một cách nhìn phi truyền thống tự hòa mình vào niềm vui nỗi buồn của nhân dân. Thời điểm đó sự xuất hiện của các bài thơ này là một điều mới lạ.
     
Nếu Thạch Quỳ nói với con bằng những hình ảnh chi tiết quen thuộc hướng tới hành động cần thực tế tránh ảo tưởng:
Con ơi con trái đất thì tròn
Mặt trăng sáng cũng tròn như đĩa mật
Và tất cả đó là sự thật
Nhưng cái bánh đa tròn điều đó thật hơn
Thì Nguyễn trọng Tạo lại nhìn thấy cái thời đã qua và cái thời đang sống như những gì đang tích lũy và báo hiệu cần những đổi thay:
Gió thầm thào như chẳng thể nguôi yên
Gạo thịt cửa hàng nhiều khi không đủ bán
Con phe sục khắp ga tàu bến cảng
Giá chợ đen ngoảnh mặt với đồng lương... 
Nếu để ý một chút ta thấy giữa hai bài thơ này vẫn có một sự thống nhất. Phải chăng từ những ý nghĩ ảo tưởng trong thơ Thạch Quỳ nhắc tới là nguyên nhân dẫn đến thực tế hỗn độn được mô tả trong thơ Nguyễn Trọng Tạo?
Thạch Quỳ muốn cuộc sống được diễn tả như chính nó đang diễn ra bình dị.
Mẹ hát lời cây lúa để ru con
Cha cày đất để làm nên hạt gạo
Chú bộ đội ngồi trên mâm pháo
Bác công nhân quai búa quạt lò.
Nguyễn Trọng Tạo lại thấy cái quy luật tự nhiên: Những bông hoa vẫn cứ nở đúng mùa cho ta liên tưởng cái chưa đúng mùa của con người khi họ không thể nghe được tiếng nói bước đi âm thầm của thực tiễn. Anh thấy cái đang lụi tàn xen lẫn cái đang sing sôi đó là biện chứng của cuộc sống. Cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam và phía Bắc đã cho Nguyễn Trọng Tạo thấy cái điều có người chưa thấy hoặc thấy nhưng chưa nói thành lời:
Khi đang đắm yêu nào tin được bao giờ
Rồi một ngày người yêu ta đổi dạ
Rồi một ngày thần tượng ta tan vỡ
Bạn bè thân thọc súng ở bên sườn 
Người đọc thấy được cái Nguyễn trọng Tạo muốn nói nhưng người phê bình nó có thể vì mục đích khác nên không thấy:
Như con chiên sùng đạo chợt bàng hoàng
Nhận ra Chúa chỉ ghép bằng đất đá
Thời tôi sống thêm một lần súng nổ
Trái tim đau rỏ máu dọc biên thùy... 
     
Như đã nói ở trên những bài thơ này giản dị câu chữ bình thường nhưng trong nó đã chứa đựng một đòi hỏi cần một phương pháp mới để vượt qua cái quen đã thành xiềng xích sẽ nhìn thấy cuộc sống đúng hơn và trả lời được các câu hỏi do nó đặt ra. Khi mọi người còn ngủ thì một vài người thức chưa hẳn đã không làm người ngủ khó chịu. Những bài thơ chẳng gì úp mở chẳng gì "phản động" nhưng vô tình hay cố ý mà một số người bóp méo làm cho bài thơ xấu đi trong mắt một số người. Không chỉ tò mò người đọc lại đi tìm những bài thơ đó. Họ lại thấy mến yêu bởi khi cuộc sống vật vã tìm đường đổi mới chính họ cũng thấy cần có sự thay đổi. Không biết nên buồn hay vui khi các tác giả này đều bị tai nạn nghề nghiệp.

      Như trên đã nói muốn hiểu cuộc sống mới đang đòi hỏi gì cần phải có phương pháp tiếp cận mới hơn không chỉ người làm thơ mà chính người phê bình người đọc cũng phải thay đổi. Do không thay đổi cách nhìn họ phân tich phê phán bài thơ cực kỳ máy móc. Nghe chim hót đừng nghe mê mãi quá người ta đặt câu hỏi chim hót là gì? Và tự trả lời: Đài tiếng nói VN và Báo Nhân Dân...hai cơ quan ngôn luận quan trọng nhất của Đảng và Nhà nước. Hay câu Qua đường đất đến con đường sỏi đá họ bảo con đường là con đường đi lên CNXH gieo rắc tư tưởng không tin vào con đường Đảng đề ra... Tôi không hình dung được họ sẽ hiểu như thế nào khi Nguyễn trọng Tạo viết:
Thời tôi sống có bao nhiêu câu hỏi
Câu trả lời thực chẳng dễ dàng chi
Cứ theo logic như đã nói có lẽ họ áp cho tác giả thiếu niềm tin chăng? Tư tưởng ảo tưởng của một số người đã thay thế tư tưởng hướng về thực tế. Từ đó họ suy ra và buộc tội không hề thương tiếc...
Khi ấy tôi ở HN biết tin chứ anh TQ không nói trở về Vinh tôi có gặp một nhân vật khá thù ghét TQ tôi nói phân tích thơ như ông thì người đi tù đầu tiên ông biết ai không? Hắn không hiểu tôi nói về ai. Tôi bảo Bác Hồ! Ông biết không Bác viết Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng sao lại chông chênh thiếu niềm tin ư? Thơ không dành cho những tâm hồn thô thiển và đen tối đâu nhé! 
     
 Giờ thì GS Như Thiết không còn nữa năm 1981 ông nói với tôi ông Trường Chinh sau sự kiện một số nhà thơ bị nhắc tên có gọi ba người trong đó có GS Như Thiết và GS Hoàng Trinh lên hỏi chuyện. Ông có nói đừng nói người ta là nhân văn tội lắm! Hội nhà văn Việt Nam và nhiều nhà văn nhà thơ cũng hết lòng bênh vực. Tôi nói lại chuyện này để thấy chỉ một số người không hiểu hoặc cố tình không hiểu làm cho câu chuyện hay trở nên xấu đi một chút trước khi nó trở về đúng với thực chất của nó. Lịch sử thật công bằng lịch sử bênh vực họ bằng sự lầm lũi đi về phía cần đi và trước sau con người cũng phải đi về hướng đó. Con người có thể bế tắc nhưng lịch sử thì không. Con người bế tắc có thể làm chậm bước đi và kéo dài sự đau khổ của chính mình. Giờ thì đất nước đã đổi mới thông thoáng hơn nhiều đọc lại những bài thơ gây sóng gió một thời tôi thấy tiếc vì nắng trôi đi oan uổng biết bao ngày...