Bình luận khoa học hiến pháp nước CHXHCNVN năm 1992 - Chế độ kinh tế - TS VƯƠNG CƯỜNG


CHÍNH SÁCH KINH TẾ CỦA QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI KIN H TẾ Ở NƯỚC TA
TS VƯƠNG CƯỜNG


( Tiếp theo và hết)
 

     3.Chính sách kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước.
     
Nghị quyết Đại hội VII của Đảng cộng sản Việt Nam đã khẳng định phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng XHCN vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước. Để đi đến quyết định này Đảng đã tìm tòi thể nghiệm và tổng kết thực tiễn hơn 10 năm.
     
Một trong những chủ trương quan trọng của Nghị quyết trung ương lần thứ 6(khoá IV)-Nghị quyết đánh dấu tư tưởng đổi mới-là chấp nhận ở mức độ bổ sung quan hệ hàng hoá-tiền tệ cho hệ thống kế hoạch hoá tập trung.Cùng với một số giải pháp tháo gỡ cho sản xuất nông nghiệp chủ trương này đã chấp nhận nên nhanh chóng diễn ra xu hướng phát triển các quan hệ  hang hoá-tiền tệ như một tất yếu khách quan đời sống kinh tế bắt đầu đổi mới nhờ bước đầu xác lập mối quan hệ giá trị.Suốt mấy thập kỷ trước đó do không thừa nhận có sản xuất hàng hoá trong CNXN nên quan hệ hang hoá-tiền tệ chỉ tồn tại hình thức mà mất nội dung kinh tế của nó.Trong mô hình CNXH đó người ta nhầm tưởng rằng quan hệ hàng hoá-tiền tệ và cơ chế thị trường là một phạm trù riêng có của chế độ tư hữu chỉ có CNTB mới có.Thực tế đang chỉ ra rằng trong CHXH quanh hệ hàng hóa-tiền tệ vẫn tồn tại do nhu cầu xã hội hoá các quan hệ kinh tế.
     
Tuy tư tưởng đổi mới đã xuất hiện trong Nghị Quyết Trung ương 6(khoá IV) năm 1979 nhưng phải đến đại hội VI bước ngoặt về quan điểm đổi mới được khẳng định:nước ta có thể tiến lên CNXH bỏ qua giai đoạn phát triển TBCN nhưng phải đi qua con đường phát triển kinh tế hàng hoá.XHCN thông qua con đường phát triển kinh tế hàng hoá thì đương nhiên sớm hay muộn phải đi đến kinh tế nhiều thành phần.Thực tế cho thấy yêu cầu phát triển của lực lượng sản xuất nước ta rất phong phú.Mỗi lực lượng sản xuất nhất định đòi hỏi một quan hệ sản xuất tương ứng của mình chứ không phải là một quan hệ sản xuất chung.
     
Hội nghị Trung ương lần thứ 6(khoá VI) đã khẳng định tính chất nhiều thành phần trong sản xuất hàng hóa ở nước ta.Mỗi thành phần kinh tế được quy định bởi mỗi hình thức sở hữu tư liệu sản xuất.Vì vậy đa dạng hoá các hình thức sở hữu vừa là nguyên nhân vừa là kết quả của nhiều thành phần kinh tế.Nhờ đó sự giải phóng lực lượng sản xuất do các chính sách kinh tế mang lại nên mâu thuẫn gay gắt giữa quan hệ sản xuầt và lực lượng sản xuất bước đầu được giải quyết. Đó cũng là nguyên nhân quan trọng nhất dẫn đến sự phát triển kinh tế trong quá trình đổi mới.
     
Khi chuyển sang kinh tế hàng hoá thì sự phát triển nền kinh tế quôc dân phải thông qua cơ chế thị trường.Trong đó chủ sở hữu sản xuất kinh doanh và người lao động đều coi trọng lợi ích kinh tế của mình như mục đích trực tiếp.Cũng nhờ thực hiện mục đích đó mà nền kinh tế hàng hoá vận hành theo cơ chế thị trường có động lực thúc đẩy.
     
Trên thế giới cho đến nay đã từng có nhiều loại cơ chế quản lý kinh tế tồn tại. Đó là cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hoá tập trung cơ chế thị trường tự do và cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước.Cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung và cơ chế thị trường tự do đều đã từng gây ra khủng hoảng bế tắc cho nền kinh tế. Đảng và Chình phủ ta chủ trương theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN trong đó các thành phần kinh tế cùng tồn tại phát triển và cạnh tranh với nhau và kinh tế quốc doanh phải vươn lên địa vị chủ đạo.Hiện nay kinh tế quốc doanh đóng góp hơn 60% nguồn thu ngân sách Nhà nước.Mấy năm qua tỷ trọng của kinh tế quốc doanh chiếm trong GDP tăng theo từng năm : năm 1990:34% và năm 1992 :39 9%.
     
Kinh tế thị trường có thể đưa lại tăng trưởng kinh tế nhanh nhưng nó vốn có khuyết điểm đã tác động xấu trước hết về mặt xã hội. Đó là người sản xuất theo đuổi lợi nhuận nên thường vi phạm lợi ích chung và sự phân hoá giàu nghèo trở nên gay gắt.Một số người giàu lên và ngựoc lại một bộ phận nghèo khó.
     
Nên kinh tế nước ta đang vận hành theo cơ chế thị trường và được xác định theo định hướng XHCN nhưng định hướng đó thể hiện trong thực tế còn nhiều lúng túng.Vì vậy có một số người cho rằng đã là nền kinh tế thị trường thì CNXH cũng như CNTB.Thật ra ở tất cả các nước đều có vai trò quản lý kinh tế của nhà nước.Ở tầm vĩ mô các Nhà nước tư bản đều dùng hệ thống đòn bẩy để điều tiết theo quy hoạch tổng thể của nền kinh tế đảm bảo tạo môi trường cho kinh tế thị trường phát triển.Sự khác biệt giữa CHXN và CNTB là mối quan hệ giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội phúc lợi cộng đồng bảo vệ môi sinh điều kiện lao động của công nhân gắn liền với tăng trưởng kinh tế.
     
Chính sách kinh tế nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước đang đi vào tất cả các ngành các lĩnh vực kinh tế.Nhà sản xuất hướng tới thị trường sản phẩm được thị trương kiểm nghiệm.Nhớ đó đã xoá bớt sự bất hợp lí trong sản xuất lưu thông.Thực tế mấy năm qua nhờ thực hiện chính sách kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường mà sức sản xuất được giải phóng mạnh mẽ công phá vào nên sản xuất tự cung tư cấp mở đường tiền lên sản xuất hàng hoá.Nền kinh tế nước ta mấy năm qua đã bắt đầu tăng trưởng khá.So với mục tiêu 5 năm(1991-1995) bốn năm
1991 1992 1993 1994 tổng sản phẩm trong nước (GDP) đã đạt bình quân 8 05%(mục tiêu là 5 5-6%).Giá trị tổng sản lượng công nghiệp bình quân tăng 13 2%(mục tieu 8-10%).Giá trị tổng sản lượng nông nghiệp bình quân đạt 5.4%(mục tiêu 3 7-4 3%). Kim ngạch xuất khẩu tăng trên 20% tổng mức đầu tư tăng trên 30% (1)
     
Đóng góp vào kết quả to lớn đó trước hết cần kể tới kinh tế quốc doanh.Trước đây Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều nghị quyết trong đó có nghị quyết 306 của Bộ Chính trị và tiếp theo là Nghị Quýêt 217 của Hội đồng bộ trưởng nhằm mở rộng quyền tự chủ kinh doanh cho các đơn vị quôc doanh.Nhò đó.một số đơn vị kinh tế quôc doanh đã vươn lên nắm bắt thị trường mở rộng sản xuất gắn sản xuất với thị trường cải tiến quy trình công nghệ nâng cao chất lượng sản phẩm đứng được trong cạnh tranh.Một số hàng hoá tiêu dung khai thác và bước đầu gia nhập được vào thị trương quốc tế có mức tăng trưởng cao như da giày 51 2% sành sứ thuỷ tinh 40 1% sữa 45 5% may mặc 35 7%v.v...trong năm 1993 (2)
     
Kinh tế quốc doanh cũng phát triển mạnh trong nhiều lĩnh vực bước đầu khai thác được các tiềm năng trong nhân dân.mở mang ngành nghề thu hút lao động tăng thêm thu nhâp cho người lao động.Kinh tế tư nhân kinh tế hợp tác cá thể tiểu chủ tư bản tư nhân lien doanh với nước ngoài đang khẳng định vai tò quan trọng tích  cực và lâu dài đang phát triển ộng.Một mặt các khu vực kinh tế này đang cần có môi trường pháp lý thuận lợi để tiếp tục phát triển.Mặt khác lại đòi hỏi phải tăng cưòng quản lý Nhà nước để ngăn chặn hạn chế những tiêu cực của cơ chế thị trường.
     
Nhờ có chính sách kinh tế nhiều thành phần lực lượng lao động to lớn được thu hút.Hiện nay cả nước có hơn 370 nghìn hộ sản xuất tiểu thủ công nghiệp và gần 4000 hợp tác xã về vận tải có 400 xí nghiệp  hoặc tổ hợp 16000 hợp tác xã cà 100 nghìn hộ kinh doanh vận tải 1600 hợp tác xã mua bán và hơn 1 triệu hộ kinh doanh dịch vụ thương mại (3)  Từ phát triển kinh tế nhiều thành phần mà các hình thức xã hội hoá ra đời chuyển những hình thức kinh tế tư nhân cá thể ...lên hình thức cao hơn.
     
Kinh tế nhiều thành phần phát triển đã huy động các nguồn vốn đầu tư của toàn xã hội.Kinh nghiệm các nước kinh tế phát triển cho thấy đây là nguồn vốn quan trọng nhất để phát triển kinh tế.Trong 3 năm 1991-1993 ước tính các nguồn vốn đầu tư cho toàn xã hội  đạt 6.250 triệu USD bằng 16% nhu cầu vồn để thực  hiện nhu cầu chiến lược (4) Lạm phát đã bị đẩy lùi từng bước ổn định tình hình tài chính tiền tệ tạo điều kiện môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội trong điều kiện chuyển đổi cơ chế quản lý tuy nguồn vốn bên ngoài bị cắt đứt đột ngột.
     
Bộ mặt xã hội nước ta từ thành thị đến nông thôn đang thay đổi nhanh chóng.Một không khí làm ăn nhộn nhịp khẩn trương bao trùm lên tất cả các ngành lĩnh vực kinh tế.Thắng lợi to lớn nhất của quá trình chuyển đổi kinh tế nước ta là nên kinh tế bước đầu ra khỏi khủng hoảng.Chính sách kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước đóng góp phần quan trọng vào thắng lợi đó.Trong những năm tiếp theo để nền kinh tế nước ta phát triển hơn nữa các thành phần kinh tế cần hướng tới công nghiệp hoá hiện đại hoá.Do đó cần huy động nhiều vốn cần tiết kiệm trong sản xuất tiêu dung để mở rộng sản xuất kinh doanh.

4.Chính sách kinh tế mở cửa.
     
Từ năm 1986 trở về trước nền kinh tế nước ta nhìn chung là một nền kinh tế khép kín.Kinh tế đối ngoại được quan tâm nhưng chỉ là nhập khẩu trang thiết bị kỹ thuật phục vụ cho sự phát triển kinh tế nội địa.Xuất khẩu không được quan tâm và vì thế những thế mạnh kinh tế cuả đất nước của từng vùng từng ngành không được khai thác sức mạnh kinh tế dân tộc đã không phát huy được để kết hợp với sức mạnh kinh tế quốc tế.Nền kinh tế tự cung tự cấp chẳng những không bị phá vỡ mà chừng mực nào đó được tô đậm hơn do không phát triển được kinh tế hàng hoá.Kinh tế và xã hội đất nước chậm phát triển.
     
Nền kinh tế khép kín đã để lại hậu quả nặng nề chẳng những không hoà nhập được với nền kinh tế thế giới mà còn bị bỏ xa mức tụt hậu kinh tế ngày càng tăng.Nền kinh tế không có tích luỹ đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không được cải thiện.
     
Khi các con rồng Châu Á bay lên đã buộc các nhà nghiên cứu lãnh đạo quản lý ở nhứng nước có nền kinh tế khép kín phải suy nghĩ lại.Vấn đề trước hết là phải đi theo chiến lược kinh tế hướng ngoại chấp nhận sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường thế giới trong quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá.Chỉ có như vậy mới có thể phát huy được thế mạnh của dân tộc tạo khả năng rút ngắn khoảng cách phát triển so với các nước đi trứớc.
     
Ngày nay trong điều kiện quốc tế  hoá kinh tế và các mặt đời sống nhanh chóng chúng ta cấn sớm nhìn nhận xu thế nói trên.Vấn đề quan trọng nhất là xác định rõ mục tiêu phát triển kinh tế hướng ngoại là để phát triển kinh tế trong nước giải quyết tốt hơn đời sống nhân dân xây dựng một nền kinh tế mở cả trong và ngoài nước vấn đề giữ vững độc lập tự chủ phải được rất coi trọng. Điều này cho thấy vai trò quản lý của Nhà nước cũng như kết hợp tăng trưởng kinh tế với quốc phòng an ninh vững mạnh phải được tăng cường.Thực hiện chiến lược kinh tế hướng ngoại tức là đẩy mạnh xuất khẩu trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh để chiểm lĩnh thị trường thế giới đồng thời với việc thay thế nhập khẩu bằng những sản phẩm trong nước.Với chiến lược này sản xuất trong nước được bảo hộ phát triển.
     
Trong quá trình chuyển đổi kinh tế kinh tế hướng về xuất khẩu đã được coi trọng.Với chính sách kinh tế mở Nhà nước khuyến khích tất cả mọi thành phần kinh tế hoạt động xuất nhập khẩu sản xuất hướng tới thị trường hướng tới thị trường quốc tế đã tạo ra những động lực mới tác động vào sản xuất.Nhờ đó nhiều tiềm năng thế mạnh của nền nông nghiệp nhiệt đới đang được khơi dậy.So với năm 1992 một số mặt hang xuất khẩu tăng như cà phê: 25% chè 30% hàng thuỷ sản 22%...Ngành nghế thủ công truyền thống như khảm trai thêu ren may mặc đang được khôi phục và phát triển bắt đầu có mặt trên thị trường thế giới.
     
Vấn đề nan giải trong giai đoạn phát triển ban đầu là thiếu hụt vốn đầu tư lực lượng lao động dư thừa ngày càng lớn.Vì vậy con đường hợp tác với bên ngoài là hết sức quan trọng.Nhưng điều đó đòi hỏi những điều kiện bên trong(về lãnh đạo quản lý bộ máy và cán bộ vốn...)để sử dụng nguồn vốn bên ngoài chuyển giao công nghệ đào tạo cán bộ... có hiệu quả cao.
     
Trong nhưng năm qua vận dụng chính sách kinh tế mở kim nghạch xuất khẩu và nhập khẩu đều đã tăng lên.Nếu như năm 1991 kim ngạch xuất khẩu đạt 2 08 tỷ USD thì đến năm 1993 ước tính xuất khẩu đạt 3 tỷ USD và nhập khẩu đạt 2 505 tỷ USD (5) Thị trường xuất khẩu luôn luôn được mở rộng theo quá trình đổi mới cơ chế quản lý kinh tế.
     
Trong chính sách kinh tế mở nếu như nhiều địa phương ngành kinh tế nước ta luôn hướng ra cũng là một thị trường hấp dẫn của các nước trên thế giới.Nhờ có luật đầu tư với lực lượng lao động dồi dào giá rẻ đất nước có nhiều tài nguyên nên hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài vào nước ta nhiều hơn.Trong thời gian 1988-1994 nước ta đã cấp phép hoạt động cho 1200 dự án với tổng số vốn đầu tư đăng kí vào khoảng 11tỷ USD(trong đó 1/3 số vốn đã được thực hiện). Điều đáng chú ý là tốc độ đầu tư trong những năm qua cũng tăng nhanh.Nếu như từ 1988 đến hết năm 1992 tóc độ tăng đầu tư nước ngoài hang năm là 51 6% thì năm 1993 đã tăng lên 43% so  với 1992 và năm 1994 tăng 26% so với năm 1993.Quy mô vốn đầu tư cũng tăng tương ứng.Nếu như năm 1988 đạt 366 triệu USD thì năm 1994 con số này đạt tới 3500 triệu USD( tăng gần 10 lần)(6)
     
Nước ta đã mở rộng quan hệ thương mại với trên 100 nước  và lãnh thổ thê giới.Năm 1986 kim ngạch xuất khẩu chỉ bằng 36% nhập khẩu.Nhưng trong 4 năm(1991-1994) tỷ lệ này nâng lên đạt 91% (7)
     
Ngoài ra nguồn vốn viện trợ phát triển(ODA) từ các tổ chức quốc tế vào nước ta cũng ngày một nhiều hơn.Tính riêng năm 1993 nguồn vốn này đạt 350 triệu USD.Trong đó có 139 triệu USD không hoàn lại.
     
Với một đât nước nghèo trong bước phát triển ban đầu khối lượng vốn thu hút được thong qua các dự án đầu tư rất quan trọng.Vấn đề đặt ra là sử dụng nguồn vốn đó như thế nào cho có hiều quả trứơc mắt lẫn lâu dài.Có như vậy mới khai thác được các nguồn lực trong nước giải quyết vấn đề lao động và việc làm.Nâng cao trình độ công nghệ nhăm tăng cường khả năng cạnh tranh của hàng hoá trên thị trường quốc tế.Lợi dụng nguồn vốn bên ngoài phát triển kinh tế bên trong rút ngắn khoảng cách khắc phục tụt hậu.Nhưng quan trọng nhất của một nền kinh tế lành mạnh là phải tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế làm chính và sử dụng vốn nước ngoài hợp lý có hiệu quả cao.
     
Những năm qua các dự án đầu tư nước ngoài nói chung là phù hợp với nhu cầu và cơ cầu kinh tế của đất nước ta. Đầu tư vào các ngành công nghiệp dầu khí nông-lâm-ngư nghiệp giao thong vận tải bưu điện...chiếm khoảng 7% số dự án(riêng công nghiệp chiếm 5% số vốn đăng ký).Từ năm 1988-1994 70% vốn đầu tư dành cho các nghành sản xuất vật chất 30% dành cho hoạt động dịch vụ;60% dự án dành cho đầu tư chiều sâu nhằm cải tạo nâng cấp trang thiết bị.Hình thức đầu tư kinh tế thể hiện:71% số dự án thuộc liên doanh 17%  dự án thuộc xí nghiệp 100% vốn nước ngoài 12% thuộc dự án hợp đồng hợp tác kinh doanh.Hơn 98% đối tác chính của kinh tế nước ta  với nứơc ngoài là các doanh nghiệp Nhà nước.Số dự án ở các tỉnh phía Bắc chiếm 35% và 45% vốn đâu tư.Các vùng kinh tế trọng điểm quôc gia như TP Hồ Chí Minh Hà Nội Đồng Nai Hải Phòng Quảng Ninh Bà Rịa-Vũng Tàu Đà Nẵng và Huế là nhứng nơi thu hút vong đâu tư nước ngoài chiếm 84% tổng số vốn đâu tư của cả nước (8)
     
Chính sách kinh tế mở đã mang lại kết quả kinh tế quan trọng.Một là giá trị hang hóa giá trị xuất khẩu thu ngân sách nhờ đó tăng lên.Chỉ tính riêng năm 1992 các doanh nghiệp đẩu tư nước ngoài đã tạo ra 550 triệu USD giá trị hang hoá dịch vụ.Ngân sách nhà nước thu được khoảng 200 tỷ đồng và 150 nghìn USD (9) Hai là nhờ có vốn đầu tư nước ngoài đã phát triển được các lĩnh vực sử dụng nhiều lao động như sản xuất hàng tiêu dùng chế biến thực phẩm xuất khẩu kinh doanh khách sạn và du lịch cũng như khai thác thăm dò dầu khí.Nhờ đó  đã giải quyết được 80.000 người lao động trực tiếp và khoảng 10 vạn lao động không thường xuyên qua các khâu dịch vụ.Kết quả này hết sức quan trọng trong điều kiện hiện nay không chỉ là kinh tế mà còn giải quyết các vấn đề xã hội góp phần ổn định chính trị để đẩy mạnh cải cách  kinh tế.Bởi vì cải cách kinh tế thu hút vốn đầu tư nước ngoài chỉ có thể thành công trong điều kiện chính trị ổn định.Ba là đã tiếp nhận một số thành tựu kỹ thuật công nghệ tiên tiến của thế giới tỏng một số ngành nghề kinh tế như thông tin viễn thông thăm dò khai thác dầu khí sản xuất và lắp ráp ôtô xe máy hoá chất phương tiện công nghệ sinh học tiên tiền như nuôi tôm nước lợ...trong nông nghiệp.Bốn là đã tiếp nhận một số phương pháp quản lý tiến bộ kinh nghiệm tổ chức sản xuất của một số nước tiên tiến trên thế giới...
     
Tuy nhiên trong 7 năm thực hiện luật đầu tư nước ngoài ở nước ta còn có nhiều nhược điểm hạn chế.Vì vây nó hạn chết hoạt động đầu tư nước ngoài vào nước ta.Một là thủ tục đầu tư vẫn rất rườm rà phức tạp phăi qua nhiều cửa phải có nhiều loại giấy phép mới thực hiện được.Từ đó gây phiền hà nhiều khe hở phát sinh tiêu cực.Hai là đội ngũ cán bộ tham liên doanh lien kết chưa được  chuẩn bị đào tạo đầy đủ vừa thiếu vế số lượng vừa yếu về chất lượng đặc biệt năng lực quản lý tổ chức sản xuất kinh doanh.Thiều phương tiện hoạt động như ngoại ngữ hiểu biết tập quán quốc tế quốc gia liên quan.Ba là kết cấu hạ tầng của ta còn rất yếu kém luật pháp chính sách của ta thiếu đồng bộ hoàn chỉnh còn nhiều tuỳ tiện giản đơn...
     
Nhìn tổng quát chính sách kinh tế mở trong thời gian qua tuy đạt nhiều thành tựu nhưng còn hạn chế và chậm trễ so với thực tiễn phát triển nhanh chóng.Thực tế đó còn đang đòi hỏi một bước chuyển dịch cơ cấu công nghiệp hoá và hiện đai hoá đặt các công ty xí nghiệp đúng vị trí trong thị trường đặc biệt đòi hỏi nâng cấp trình độ quản lý kinh tế vĩ mô và quản lý Nhà nước.

Ghi chú: (1) Tạp chí Phát triển kinh tế số đặc san Xuân 1995 tr.2

(2) Báo Nhân dân ngày 10-12-1993

(3) Báo nhân Dân 13-12-1993

(4)Báo Nhân Dân ngày 13-12-1993

(5)Báo Nhân Dân ngày 22-12-1993

(6)Tạp chí Kinh tế phát triển số đặc san Xuân 1995 tr.3

(7)Tc đã dẫn tr.2

(8) Kinh tế phát triển số đặc san Xuân 1995 tr2 và Báo Nhân Dân ngày 17-12-1993

(9) Báo Nhân Dân ngày 17-12-1993


Bài đã in trong sách Bình luận khoa học hiến pháp nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 Nxb KHXH 1995

Vương Cường

Nguyễn Xuân Đức thân mến Mình không viết về chủ đề bạn quan tâm. Nhưng bạn hãy tìm cuốn sách mình đã giưói thiệu trên là có đấy. Bài viết của mình cũng lôi ra từ tập đó đấy. Mong bạn tìm được để tham khảo viết tiểu luận nhé!

Nguyễn Xuân Đức

nhờ anh giúp đỡ

Chào anh Vương Cường. em đang cần một bài viết bình luận về chế định quyền cơ bản của công dân trong Hiến Pháp 1992 đểb tham khảo làm bài tiểu luận anh có thể giúp em được không? Cảm ơn anh nhiều. Chúc anh và gia đình anh hạnh phúc.

Vương Cường

ĐÚNG LÀ MẤT DẤU do không phải anh đánh máy mà người khác. Anh sẽ sửa lại ngay! Bài viết từ 93-94 hơn 10 năm rồi khi ấy kinh tế đơn giản hơn bây giờ. Tuy bài nghiên cứu các vấn đề kinh tế nhưng vẫn nhận ra VC chứ nhỉ hahaha....Nếu copy là phải trả tiền copy phí đấy nhé! Cảm ơn HLB to gan đọc bài loại này chỉ NCS hay CH tìm đọc thôi. Anh thấy mấy bài NC đưa lên nhiều người quan tâm lắm nên đưa tiếp....

hoalucbinh

Trời ơi anh chịu khó nghiên cứu những vấn đề nhức đầu này sao. Em sẽ copy lại cho lớp chính trị của mấy anh em trong đài vì họ rất hay phải lên mạng tìm tài liệu nhất là những tài liệu gần đây để khỏi viết lý luận suông.
Mặc dù bài viết đã lâu nhưng quan điểm cho đến bây giờ vẫn đúng. Các học viên thêm phần thực tế của địa phương là có bài tốt.
Tuy nhiên em thấy nhiều nơi mất dấu anh ơi "hàng hoá" thành "hang hoá" "Thông qua" thành "thong qua"...phạt nhé.