Bình luận khoa học hiến pháp nước CHXHCNVN năm 1992 - Chế độ kinh tế - TS VƯƠNG CƯỜNG

 

CHÍNH SÁCH KINH TẾ CỦA QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI KINH TẾ Ở NƯỚC TA


TS VƯƠNG CƯỜNG


     
Hiến pháp năm 1980 ra đời trong điều kiện kinh tế bao cấp và khủng hoảng kinh tế đang xảy ra nghiêm trọng ý tưởng đổi mới kinhh tế của Đảng đang hình thành. Hiến pháp năm 1992 ra đời trong điều kiện cơ chế quản lý kinh tế đã thay đổi. Nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần dựa theo cơ chế  thị trường có sự quản lý của nhà nước đã bước đầu đưa nền kinh tế nước ta ra dần khỏi khủng hoảng. Toàn bộ sự biến đổi kinh tế đó đã được thể hiện trong chế độ kinh tế của Hiền pháp năm 1992 với 15 điều có 8 điểm mới bổ sung và 7 điều được sửa đổi nội dung cơ bản.
     
Thực chất của bước chuyển đổi kinh tế đó là cuộc cải cách cấu trúc lại nền kinh tế bắt đầu từ sở hữu. Những chính sách kinh tế của Đảng và Nhà nước đã vạch hướng cho nền kinh tế vận động. Những kết quả to lớn do chính sách kinhh tế mang lại đã chứng minh Đảng ta ngày càng tiếp cận quy luật khách quan.
 
1.Những quyết sách quan trọng đột phá về nông nghiệp mở đầu quá trình cấu trúc lại nền kinh tế.
     
Những năm 1979-1980 kinh tế nước ta đã lâm vào tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng. Hội nghị Ban chấp hành Trung ương đảng lần thứ 6(khoáVI) đã nhận định "Thắng lợi của cách mạng nước ta thật là to lớn đồng thời những khó khăn ta đã vượt qua cũng rất to lớn. Điều đặc biệt quan trọng là người lao động thiếu hăng hái sản xuất".
     
Trước tình hình đó Đảng ta đã chủ trương chuyển dần sang cơ chế sản xuất hàng hoá với nhiều giải pháp: bước đầu thừa nhận kinh tế hộ với nhiều thành phần; cho các hộ xã viên mượn đất nhằm khăc phục tình trạng bỏ hoang; ổn định thu mua lương thực điều chỉnh giá mua nông sản; thực hiện mua theo gía thoả thuận; bãi bỏ việc phân phối định suất; hạn chế mức lập quỹ tập thể nhăm tăng thu nhập cho xã viên thừa nhận kinh tế gia đình là một bộ phận hợp thành của nền kinh tế XHCN.
     
Với chủ trương khoán đến nhóm và người lao động tháng 1-1981 hộ gia đình nông dân trồng lúa được tự chủ 3 khâu trong quá trình san xuất nông nghiệp :gieo mạ cấy trồng chăm bón và thu hoạch. HTX đảm nhiệm 5 khâu: làm đất thuỷ lợi bảo vệ thực vật giống và phân hoá học. Quyền chi phối tái sản xuất đất vẫn thuộc về Ban quản lý HTX. Tuy vậy so với thời kỳ 1976-1980 năng suất lao động đã tăng 23 8% sản lượng lương thực tăng 27% diện tích cây công nghiệp tăng 62 1% đàn bò tăng 33% đàn lợn tăng 22 1%. Bình quân lương thực đầu người năm sau cao hơn năm trứơc(1981:273kg 1985 304kg) (1)
     
Tuy nhiên Chỉ thị 100 của ban bí thư về khoán đến nhóm và người lao động vẫn còn nhiều hạn chế do cơ chế tập trung quan liêu bao cấp chưa được thao gỡ cơ chế quản lý nội bộ HTX và nhất là vai trò kinh tế hộ gia đình chưa được khẳng định. Việc kéo dài bộ máy quản lý cồng kềnh mức khoàn không ổn định đã triệt tiêu dần động lực kinh tế vừa được khơi dây. Kết quả là HTX lại đưng trước nguy cơ mới. Sản lượng lương thực năm 1987 giảm gần một triệu tấn mức nhà nước huy động cũng giảm gần 40 vạn tấn nạn đói xảy ra ở một số vùng liền 2 năm 1987-1988.(2)
     
Từ một nước nông nghiệp lạc hậu đi lên sản xuất hang hoá lớn Đảng ta đã nhận thức đùng vấn đề đời sốngcủa nhân dân không thể dựa vào bên ngoài. Hơn nữa có phát triển kinh tế nông nghiệp mới tạo cơ sở cho nền kinh tế phát triển ổn định xã hội đảm bảo nền độc lập và tự chủ. Không có sự phát triển toàn diện của nông nghiệp thì không có sự ổn định và bước tiền toàn bộ nền kinh tế. Nhận thức được vai trò to lớn đó cuả nông nghiệp Đảng và nhà nước ta đã xem xét kỹ hai vần đề cơ bản đang đặt ra để đẩy mạnh nông nghiệp phát triển. Một là:phải đảm bảo lợi ích kinh tế nông dân thì sản xuất nông nghiệp mới có động lực. Hai là: vai  trò kinh tế hộ gia đình trong sản xuất nông nghiệp cũng như mồi quan hệ giữa kinh tế hộ gia đình và HTX phải được xác lập đúng.
     
Đáp ứng yêu cầu đó và khắc phục những hạn chế của Chỉ thị 100 tháng 4 năm 1988. Bộ chính trị (khoá VI) đã ra nghị quyết 10 và sau đó Hội nghị BCH Trung ương đảng lần thứ 6(khoá VI) đã ra nghị quyết với những chủ trương đúng đắn kịp thời. Nội dung chủ yếu của các nghị quyết đó nhằm tiếp tục giải phóng sức sản xuất chuyển nền nông nghiệp còn đang tự cấp tự túc ở nhiều vùng sang sản xuầt hàng hoá nhiều thành phần. Thực hiện điều chỉnh một số bước quan trọng về sở hữu tư liệu sản xuất giao khoán ổn định lâu dài ruộng đất đến hộ gia đình nông dân hoá giá các tư liệu sản xuất khác và cơ sở vật chất kỹ thuật cuả HTX trước đây mà tập thể quản lý kém hiệu quả. Khuyền khích nông dan mua sắm công cụ sản xuất và trâu bò cày kéo. Đặc biệt đã khẳng định vai trò tự chủ cuả hộ gia đình. Thực hiện cơ chế phân phối theo lao động và xoá bỏ chế độ theo công điểm và hiện vật. Xã viên chỉ còn một nghĩa vụ nộp thúê cho Nhà nước và thực hiện các nghĩa vụ hợp đồng sản phẩm cong lại được tự do lưu thông và bán nơi nào có lợi nhất. Thực hiên chủ trương thương mại hoá vật tư. Khuyến khích sản xuất và làm giàu chính đáng. Ngoài ra còn thừa nhận sự tồn tại và khuyến khích phát triển kinh tế cá thể kinh tế tư nhân. Nhà nước bảo hộ quyền lợi chính đáng và được bình đẳng trước pháp luật.
     
Nhờ những chủ trương đó đã hình thành động lực kinh tế mới thúc đẩy phát triển sản xuất. Lợi ích kinh tế nông dân đã được coi trọng. Bước đầu giải quyết 3 mối quan hệ lợi ích: Nhà nước tập thể và người lao động. Trong đó lợi ích kinh tế nguời lao động được khuyến khích ưu tiên. Nhờ đó nông dân đã gắn bó hơn với đồng ruộng đã đầu tư công sức kỹ thuật và trí tuệ vào ruộng khoán. Cuộc điều tra XHH ở tỉnh Hải Hưng năm 1990 cho thấy 97 4% nông dân được hỏi muôn giữ nguyên hoặc được nhân thêm ruông khoán. Trong đó muốn giữ nguyên là 52 3% và muốn nhận thêm là 45 03%.(3)
     
Nếu như khoán 100 mới mang lại cái sôi nổi ban đàu của động lực kinh tế thì khoán 10 đã khẳng định được động lực. Bởi vì Đảng và Nhà nứơc đã bắt đầu giải quyết đúng đắn mối quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất về ruộng đất cũng như công cụ khác. Nông dân đã yên tâm đầu tư vốn lao động thực hiên thâm canh tăng năng suất cay trồng vật nuôi. Quá trình sản xuất của nông dân là quá trình tự chủ. Tốc độ thu nhập bình quân hàng năm cua nông dân tứ năm 1987 trở về trước là 1 18%.Hai năm 1988 1989 tôc độ đó đã tăng lên 4 5%. Hộ nông dân có thu nhập thấp (dưới 20kg gạo/tháng) nhưng năm 1976-1980 chiếm 20% đến năm 1989 đã giảm xuống 9 44%. Hộ có bình quân đầu người /tháng đạt 41kg trở lên từ 21 3% năm 1987 đã tăng lên 44 9% năm 1989. Sản lượng lương thực đã tăng lên theo từng năm(1988:19 583triệu tấn   1989:21 439 triệu tấn và 1993: 24 5 triệu tấn (4) 1994: 26 triệu tấn). Nhờ đó nước ta đã giải quyết được vấn đề ăn có dự trữ và xuất khẩu hàng năm  1 5 đến 2 triệu tấn gạo trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ 3 trên thề giới.
     
Việc sử dụng và khai thác ruông đất từ khi có nghị quyết 19 đã được nông dân coi trọng. Đất canh tác chẳng những được bảo vệ mà còn sử dụng tiết kiệm. Đất hoang hoá bãi bồi.thung đào...được sử dụng triệt để. Kết quả điều tra cho thấy trong vòng 3 năm (1988-1990) diên tích gieo trồng đã tăng 3 9%. Diện tích khai hoang đạt 257.000 ha.
     
Việc nông dân làm chủ quá trình sản xuất nông nghiệp do quyến sử dụng lâu dài ruộng đất được chuyển nhượng thừa kế cho thuê và chuỷên đổi quyền sử dụng cung với việc thừa nhận kinh tế hộ gia đình. Động lực kinh tế mang tính chất trực tiếp do lợi ích kinh tế của nông dân được thực hiên thông qua kinh tế  hàng hoá khi họ chính là chủ thể sản xuất kinh doanh. Nhò đó sức sản xuất nông nghiệp được giải phóng. Khai thác được những tiềm năng đất đai lao động và vốn của nông dân sản xuất nông nghiệp đã hướng ra thị trường. Sự ổn định và phát triển của toàn bộ nền kinh tế.
     
Cơ cấu lao động nông nghiệp vẫn chiếm tỷ lệ cao từ 70-80%. Tuy nông nghiệp đổi mơi có nhiều thành tựu song cơ cấu kinh tế nông nghiệp vẫn chuyển dịch chậm tiềm năng nông nghiệp chưa khai thác còn lớn. Nguyên nhân do yếu kém của cơ sở vật chất và kêt cấu hạ tầng cũng như thị trường nông thôn còn chưa phát triển. Giao lưu kinh kế vẫn còn ách tắc. Đặc biệt giá nông sản quá hạ làm giảm lợi ích kinh tế nông dân gay hậu quả xấu với sản xuất.
     
Để nông nghiệp tiếp tục phát triển làm cơ sở phát triển toàn bộ nền kinh tế cần phải đặt sự phát triển của nông nghiệp nông nghiệp nông thôn theo sản xuất hàng hoá hướng tới quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá. Đó là nhiệm vụ chiến lược cho nhưng năm tiếp theo. Thực hiện nguyên tăc nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần gắn sản xuất với thị trường. Mở rộng thị trường trong và ngoài nước giải quyết được thị trường tiêu thụ hàng hoá nông sản và dịch vụ đầu vào tốt thì ở đó nông nghiệp phát triển và thu nhập của nông dân đạt kết quả cao.
     
Thực tế còn cho thấy muồn phát triển sản xuất nông nghiệp còn cần gắn liền phái triển kinh tế với văn hoá xã hội. Hiện tượng học sinh nông thôn bỏ học khá phổ biến hiện nay và tình trạng phân hoá giàu nghéo cũng xảy ra mạnh mẽ. Tỷ lệ giàu nghéo trong cơ chế bao cấp chỉ1 5 đến 2 lần. Tỷ lệ đó hiện nay đã là 40 đến 100 lần.Mặc dù số hộ nghéo đói đã được giảm xuống năm 1990 có 34 4 đến năm 1992 chỉ còn 19 6%. Tuy vậy giải quyết hộ nghèo đói đang được đặt ra cấp bách cho các địa phương. Để vực hộ nghèo đói đứng dậy cần: Mội là giải quyết vốn sản xuất. Muồn vậy chính sách tín dụng nông nghiệp cho nông dân vay vốn cần phát triển mạnh mẽ để đáp ứng hơn 50% số hộ nông dân vay (ước khoảng 5 ngàn tỷ đồng cho đến năm 1994-1995). Hai là giúp đỡ bồi dưỡng hộ nghèo đói biết lamg giàu trên cả 2 phương diện:kinh tế kỹ thuật và kinh tế xã hội. Muốn vậy cần phát triển các tổ chức khuyển nông(như tỉnh An giang trong những năm vừa qua đã thành công trong việc sử dụng tổ chức này). Ba là phát trỉên mạnh mẽ nghành nghề phi nông nghiệp như công nghiệp chế biến công nghiệp nông thôn thủ công truyền thống sửa chữa nhỏ...Phát triển ngành nghề này sẽ mang đến 2 điều lợi sau đây:thứ nhất giài quyết dần số lao động dư thừa. Thứ 2 giá trị sản xuất hàng hoá tăng lên thêm nguồn thu nhập cho nông dân. Nhưng còn cần giao ruộng đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ổn định lâu dài cho hộ nông dân để họ yên tâm đầu tư sản xuất thực hiện thâm canh và chủ động chuỷên dịch cơ cấu nông nghiệp.

2.Chính sách kinh tế đối với doanh nghiệp nhà nước
     
Từ cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp chuyển sang sản xuất kinh doanh theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN là một thử thách to lớn đối với kinh tế quốc doanh. Đó là quá trình xác lập quyền tự chủ sản xuất kinh doanh của xí nghiệp nhằm phát huy mọi tiềm năng trên cơ sở giải phóng sức sản xuât. Thực tế hơn 10 năm qua chứng tỏ rằng quá trình đổi mới cơ chế quản lý kinh tế trong lĩnh vực kinh tế quốc doanh phải chú ý đến các tính chất đặc thù của nó. Khắc phục tình trạng vô chủ trong các xí nghiệp quốc doanh không mấy thuận lợi. Trong khi đó kinh tế quốc doanh phải là thành phần kinh tế chủ đạo trong nền kinh tế nhiều thành phần. Nhà nước nắm kinh tế quốc doanh như một công cụ quan trọng nhất để điều tiết định hướng nền kinh tế.
     
Ngay từ Nghị quyết Trung ương lần thứ 6(khoá IV) năm 1979 Đảng ta đã có chủ trương xác lập vai trò và quyền tự chủ kinh doanh các XNQD khuyến khích lợi ích kinh tế của người lao động. Cùng với những giải pháp chung cho nền kinh tế đang khủng hoảng nghiêm trọng những chủ trương naỳ đã bước đầu khơi dậy được động lực sản xuất kinh tế quốc doanh như bừng tỉnh và chủ động tìm kiếm con đường làm ăn mới có hiệu quả hơn.
     
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V và các văn bản của Chính phủ đã xác định mở rông quyền chủ động sáng tạo xác lập quyền tự chủ cho các đơn vị sản xuất kinh doanh; lấy đơn vị cơ sở làm trung tâm của quá trình cải tiến quản lý. Từ năm 1987 trở đi cơ chế quản lý kinh tế được đổi mới đảm bảo cho các xí nghiệp kinh tế quốc doanh có quyền thực sự chuyến sang hạch toán kinh doanh. Quan điểm này hết sức quan trọng và được cụ thể một bước trong Hội nghị Trung ương 3 (khoá VI năm 1989): trong khi các xí nghiệp quốc doanh chuyển sang hoạt động tự chủ hạch toán kinh doanh đồng thời đổi mới cơ chế quản lý Nhà nước về kinh tế đảm bảo quyền tự chủ cho các đơn vị cơ sở. Quyết định 217-HĐBT ngày 14-11-1987 ban hành các chính sách đổi mới kế hoạch hoá và hách toán kinh doanh XHCN đối với XN quốc doanh và quyết định ban hành những quy định bổ sung QĐ 217-HĐBT ngày 14/11/1987 cuả HĐBT ngày 2/12/1989 đã đánh dấu một  bước ngoặt quan trọng đối với các XNQD từ cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế hạch toán kinh doanh XHCN trên cơ sở được tự chủ sản xuất kinh doanh góp phần tháo gỡ những khó khăn thúc đẩy sản xuất phát triển.
     
Quyết định 217-HĐBT đi vào thực tế các đơn vị kinh tế quốc doanh đã tạo ra động lực nhất định do đơn vị kinh tế quốc doanh được tự chủ trên các lĩnh vực quản lý và sử dụng tài sản các nguồn vốn liên kết liên doanh kinh tế trong và ngoài nước. Tuy trên thị trường đã phải cạnh tranh gay gắt 30% xí nghiệp quốc doanh đã làm ăn có lãi. Đương nhiên động lực do QĐ 17-HĐBT đem lại bị triệt tiêu dần mà nguyên nhân quan trọng nhất vẫn là tư liệu sản xuất của Nhà nước thiếu người làm chủ thực sự và một  số giám đốc đã vượt quá quyền hạn lợi dụng làm giàu làm giảm lòng tin của công nhân. Vấn đề chính vẫn là người lao động phải làm chủ quá trình sản xuất sự kết hợp tư liệu sản xuất và sức lao động theo con đường ngắn nhất trực tiếp từ đó quyền hạn trách
nhiệm nghĩa vụ và lợi ích của người lao động được xác định. Trong nông nghiệp Đảng và nhà nước đã giải quyết thành công vấn đề làm chủ tư liệu sản xuất của người lao động do sơ hữu tư liệu  sản xuất nhà nước(ruộng đất) có thể phân chia thành quyền sử dụng và sở hữu để giao lại cho người nông dân quyền sử dụng và nhiều loại tư liệu sản xuất khác thành sở hữu độc lập nên nông nghiệp phát triển có dộng lực lợi ích kinh tế. Tình trạng người lao động thờ ơ với tư liệu sản xuất và sử dụng nó một cách lãng phí kém hiệu quả đã được chấm dứt. Còn trong các xí nghiệp quốc doanh việc xác định chủ sở hữu tư liệu sản xuất cụ thể đã từng đặt ra cấp bách. Luật doanh nghiệp nhà nước được ban hành đã khẳng định quá trình tìm tòi và thử nghiệm đó.
     
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII(1991) và chính phủ vẫn chỉ rõ tiếp tục xoá bỏ cơ chế quan liêu bao cấp hình thành đồng bộ và vận hành cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước tạo điều kiện môi trường cho các doanh nghiệp phát triển.
     
Tuy có nhiều cố gắng trong suốt hơn 10 năm qua kinh tế quốc doanh đã bắt đầu thích ứng với cơ chế mới đóng góp quan trọng vào việc giữ vững ổn định và phát triển kinh tế; nhưng nhìn chung kinh tế quốc doanh vẫn hoạt động kém hiệu quả. Sau quyết định 388/HĐBT tính đến cuối năm 1993 còn khoảng 6000 doanh nghiệp nhà nước. Trong đó chỉ có khoảng 200 đơn vị là đầu tư đúng hướng bám sát thị trường làm ăn có hiệu quả. Hiện vẫn còn hơn 30% số xí nghiệp làm ăn thua lỗ bị giải thể sát nhập chuyển sở hữu. Hiện có 0 5 triệu người lao động trong các xí nghiệp quốc doanh chưa có việc làm.
     
Doanh nghiệp quốc doanh không chỉ yếu kém trong cơ chế quản lý chứ xác định được chủ sở hữu đích thực mà còn do nhà nước chưa tạo được môi trường hành lang pháp lý cho các doanh nghiệp vận hành theo cơ chế mới.Mặt khác sự yếu kém về công nghệ tình trạng lạc hậu thiết bị thiếu vốn để hoạt động thiếu thị trường tiêu thụ...cũng làm cho các doanh nghiệp nhà nước không cạnh tranh được để phát triển sản xuất. Do đó các doanh nghiệp nhà nước trong quá trình cạnh đổi mới cơ chế chỉ thay đổi phương thức kinh doanh mà chưa xem xét vấn đề sở hữu. Tuy đạt được thành tích bước đầu nhưng chưa tạo được sự thay đổi căn bản về chất lượng. Những tiền đề để doanh nghiep Nhà nước có thể vượt ra khỏi khủng hoảng vẫn chưa được
xác lập.
     
Vấn đề quan trọng nhất để các doanh nghiệp Nhà nước phát triển là người lao động phải được đảm bảo lợi ích. Từ đó mới thực sự làm chủ xí nghiệp gắn trách nhiệm và quyền lợi của họ vào doanh nghiệp. Có như vậy
họ mới duy trì phát triển để nguồn lực sản xuất do gắn bó với xí nghiệp và quan tâm đền hiệu quả kinh tế xí nghiệp với tư cách là chủ một phần tài sản đó. Chừng nào người lao động còn yên tâm sản xuất cho mình thì chừng đó họ có thể đóng góp vào sản xuất. Huy động nguồn vốn trong dân cư để phát triển sản xuất mới là giải pháp cơ bản quan trọng nhất để phát triển kinh tế .Do đó việc cải tiển kỹ
thuật quản lý
chuyển đổi công nghệ sắp xếp lại để khẳng định vai trò chủ đạo của nền kinh tế quốc doanh trên thực tế mới được thực hiện.
     
Cố phần hoá các doanh nghiệp nhà nước hiện đang là giải pháp có nhiều hy vọng nhằm đổi mới doanh nghiệp Nhà nước. Nhưng một doanh nghiệp

nhà nước cố  phần hoá thành công phải có điều kiện cần và đủ. Điều kiện

 cần là doanh nghiệp đó có tiềm năng chịu được cạnh tranh mở rộng được thị trường trong và ngoài nước chuyển sang hạch toán thực sự... Điều kiện đủ là giàm đốc giỏi công nhân nhất trí đoàn kết và có khả năng mua được cổ phần. Do đó để có thể tiến tới cổ phần hoá thuận lợi các doanh nghiệp

trước hết phải làm ăn có lãi hoàn thiện cơ chế khoán đến các nhóm và người lao động cũng như tự hạch toán kinh doanh.
     
Cớ chế quản lý kinh tế phải được tiếp tục đổi mới tăng cường hiệu quả quản lý vỹ mô của nhà nước nhằm khắc phục những hoạt động tự phát tiêu cực và khiếm khuyết của cơ chế thị trường.Hoàn chỉnh hệ thông pháp luật các thành phần kinh tế đều được nhà nước quan tâm và bình đẳng phát triển để tạo nên sự cạnh tranh giữa các thành phần kinh tế cũng là một giải pháp quan trọng thúc đ y kinh tế quốc doanh phát triển.

( Còn nữa )

Ghi chú: (1)(2) Báo cáo tổng kết  HTX nông nghiệp 1958-1990 định hướng HTX nông nghiệp thời kỳ sau 1990. Ban NN TW tháng 9-1990 tr.22
(3) Kinh tế xã hội nông thôn- chính sách NXB ST H 1991 tr.46
(4) Kinh tế xã hội nông thôn Việt nam ngày nay NXB TTVH H1991 tr11 Và báo Nhân Dân 9-12-1993
( Bài đã in trong sách Bình luận khoa học hiến pháp nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 NXB KHXH - H 1995 )

Vương Cường

Tôi không dám chắc anh cũng như tôi đã đọc hết Mác và cắt nghĩa đúng thực tiễn quá phức tạp hiện nay! Nhưng tôi cũng biết mỗi người có cách nhận thức của mình. Ở trang này tôi nói có mấy chuyện thôi một là văn học hai là khoa học. Những chuyện khác gần như anh thấy đấy tôi ít đề cập. Ít đề cập không phải tôi không quan tâm mà tôi không biết bắt đầu từ đâu để trò chuyện với mọi người vấn đề không chỉ sách vở mà còn cuộc sống hiện thực. Giữa lý luận và thực tiễn quá mênh mang trí thức con người thì hạn hẹp. Tôi không thích áp đặt nói mò vì như vậy không xứng với kẻ có đôi chút chữ nghĩa. Cảm ơn anh đã vào đọc và nói quan điểm của mình. Chúc anh vui nhé!

Nguyễn Hồng Khoái

Kính anh Vương Cường
Cái sai lầm lớn nhất của Mác là đã công hữu hoá về tư liệu sản xuất
Nếu cứ bám đuổi theo chủ thuyết hiện nay của đáng cộng sản Việt Nam thì chúng ta không biết đi về đâu
Kính anh sức khoẻ

Vương Cường

Cảm ơn bạn đọc nhé. Chưa công phu lắm đâu. Tôi viết về đô thị hoá công phu hơn nhiều nhưng không đưa lên được. Chúc bạn đọc vui khoẻ nhé!

Bạn đọc

Thăm anh

Anh viết bài này công phu quá câu từ thật chắc.Đúng là TS Vương Cường.Chúc anh luôn vui khỏe nhé anh !